Dân ta yêu nước nồng nàn
Truyền thống quý báu bốn ngàn năm qua
Mỗi khi địch phạm sơn hà
Thì tinh thần ấy mọi nhà bùng lên
Hồng Lạc con rồng cháu tiên
Nhiều phen chống giặc giữ nền tự do
Ngàn năm giặc Bắc tiếm đô
Ngàn năm chinh chiến giữ bờ cõi yên
Đất nước ta khắp mọi miền
Đâu đâu cũng có người hiền cứu dân
Trải qua biến cố thăng trầm
Lịch sử ta vẫn vang ngân oai hùng
Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung
Họ đều là những anh hùng Việt Nam
Chiến đấu giành lại giang san
Chống giặc giữ nước mở mang cơ đồ
Dưới thời đại của cụ Hồ
Năm tư thắng Pháp chôn mồ thực dân
Mưu địch chia cắt nhân dân
Tuy vậy ta thấy hoà bình gần hơn
Đánh Mĩ - Nguỵ giữ trận tiền
Bảy nhăm một dải nối liền nước ta
Thống nhất Nam quốc sơn hà
Cuộc sống ổn định theo đà ấm no
Hạnh phúc, độc lập, tự do
Ngày nay phát triển cơ đồ Việt Nam
Khắp nơi cờ đỏ sao vàng
Búa liềm cờ đỏ thành hàng tung bay
Từng ngày đất nước đổi thay
Dân càng no ấm sum vầy văn minh
Việt Nam thống nhất hoà bình
Việt Nam ngày một vươn mình tiến lên !
BÍ ẨN 5.000 NĂM: SỰ VĨ ĐẠI CỦA VĂN MINH BÁCH VIỆT VÀ MÃ GEN BẤT DIỆT CỦA VIỆT TỘC
Tác giả: Chu Đức Thuận (Bản hệ thống hóa và bổ sung sử liệu)
Nền văn minh Bách Việt là một chương sử rực rỡ và bi tráng của tổ tiên ta. Sự vĩ đại ấy không phải là lời nói suông, mà trong thời gian gần đây, chính những nhát cuốc khảo cổ học tại Việt Nam và vùng Nam Trung Quốc đã liên tục đào lên những bằng chứng đanh thép khẳng định điều đó. Thế nhưng, tại sao một quá khứ huy hoàng như vậy lại bị chôn vùi và làm cho đứt gãy?
1. Cuộc tàn sát văn hóa và sự thật vùi lấp nơi xứ người
Lịch sử nước ta bị đứt gãy cực kỳ trầm trọng, gần như mất trắng toàn bộ sử liệu gốc, đều bắt nguồn từ dã tâm của những kẻ đi xâm lược. Năm 1407, khi nhà Minh xua quân cướp nước ta, vua Minh Thành Tổ (Chu Đệ) đã ban một đạo luật diệt chủng văn hóa vô tiền khoáng hậu. Trong chiếu chỉ gửi tướng Trương Phụ, ông ta ra lệnh: "Một mảnh giấy, một nửa chữ của Giao Chỉ cũng không được để lại". Chúng đập nát văn bia, hủy diệt chứng tích lịch sử và chở càn quét toàn bộ kho tàng sách vở, thư tịch cổ của người Việt về Trung Quốc.
Trớ trêu thay, bánh xe lịch sử luôn có những ngã rẽ bất ngờ. Năm 1937, khi quân phiệt Nhật Bản tấn công và chiếm đóng thành phố Nam Kinh, chúng đã vơ vét và đem về nước Nhật vô số tài liệu, văn thư cổ đại mà người Trung Quốc từng cướp của tổ tiên ta khi xưa. Nhờ việc các sử gia hiện đại tiếp cận được một phần của kho tàng sử liệu đồ sộ bị lưu lạc này, bức màn bí ẩn mới được vén lên. Sự thật lịch sử chỉ ra rõ ràng: Nguồn gốc của nền Văn minh Bách Việt vô cùng vĩ đại, trong đó tộc Lạc Việt (tiền thân của nước Việt Nam hiện đại ngày nay) không phải là những kẻ "man di", mà chính là điểm tụ hội của những con người tinh hoa nhất thuộc cộng đồng Bách Việt.
2. Cuộc đại di cư của giới tinh hoa và Sự hòa huyết vĩ đại
Quá trình Hoa Hạ (Trung Nguyên) bành trướng, thôn tính các quốc gia thuộc Liên minh Bách Việt không diễn ra trong ngày một ngày hai, mà là một cuộc dằng co, đẫm máu kéo dài hàng nhiều trăm năm.
Khi Trung Quốc xâm chiếm, dã tâm đầu tiên của chúng là đồng hóa. Và để đồng hóa một dân tộc, cách nhanh nhất là tiêu diệt những thành phần thủ lĩnh, những bộ óc ưu tú nhất. Đứng trước họa diệt vong, các tầng lớp tinh hoa của Việt tộc đã quyết không cúi đầu. Họ thực hiện một cuộc đại di cư bi tráng, chạy giặc về phương Nam, lùi dần về mảnh đất cuối trời của cõi Bách Việt – vùng đất Lạc Việt (tương ứng với Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay) để tìm nơi định cư an toàn.
Tại vùng lõi này, một quá trình hòa trộn vĩ đại đã diễn ra. Tinh hoa trí tuệ, văn hóa của các tộc Mân Việt, U Việt, Sơn Việt, Điền Việt, Đông Việt, Dương Việt... đã mang theo dòng máu của mình hòa vào cộng đồng Lạc Việt. Nhờ đó, người Lạc Việt càng về sau càng quy tụ đủ các thành phần tinh túy nhất của thuyết "Đại Đồng" các tộc Bách Việt. Nền tảng văn hóa bản địa Lạc Việt vốn dĩ đã có tính ưu việt riêng (biết tự trồng lúa nước, tự đúc trống đồng thâu tóm đất trời), nay được tiếp thu thêm tinh hoa từ các tộc anh em dạt về, lại càng trở nên vô đối và ưu tú bực nhất.
Bởi thế, trải qua một tiến trình lịch sử dâu bể với quá nhiều biến động, không thể nói người Việt Nam là "thuần chủng" hậu duệ của duy nhất một tộc người. Người Việt chúng ta ngày nay là một siêu nòi giống, được hợp thành bởi ít nhất ba dòng máu chính:
Người Bách Việt: Bao gồm Lạc Việt bản địa và giới tinh hoa của các nhánh Bách Việt khác mang theo văn minh chạy xuống.
Người Thục: Cư dân ở đất Ba Thục với nền văn minh Tam Tinh Đôi rực rỡ không kém gì Hoa Hạ. Khi nước Thục bị Tần diệt (khoảng năm 316 TCN), một cộng đồng lớn đã chạy thoát xuống phương Nam, chiếm đất Âu Việt ở thượng nguồn sông Hồng. Cổ sử đầu Công nguyên chép rõ về Thục Phán đem quân đánh Hùng Vương. Hùng Vương thua, Thục Phán xưng An Dương Vương, lập nước Âu Lạc. Chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương, nỏ thần, Mỵ Châu - Trọng Thủy... dẫu nỏ thần có thể là hư cấu dân gian, nhưng sự kiện lịch sử nhà nước Âu Lạc và thành Cổ Loa là sự thật bằng xương bằng thịt. (Người Thục có thể đã có chữ viết nhưng sau này bị thất truyền).
Người Hoa Hạ: Những cư dân từ cao nguyên Thanh - Tạng di cư xuống.
3. Dân tộc tính: Sức mạnh Quân tử phương Nam
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, dân tộc tính của người Việt (người phương Nam) luôn tỏ ra khác biệt và vượt trội về mặt nhân đạo so với sự tàn bạo của người phương Bắc (Hoa tộc). Sự khác biệt này lớn đến mức, trước khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc và đánh xuống Bách Việt, chính các triết gia Hoa Hạ cũng phải cúi đầu công nhận.
Trong cuốn Trung Dung (bài thứ 10: Tử Lộ Vấn Cường), Khổng Tử đã luận rất minh bạch về lòng nhân của phương Nam như sau:
“Thầy Tử Lộ hỏi về sức mạnh. Khổng Tử nói: ‘Sức mạnh của phương Nam ư? Sức mạnh của phương Bắc ư? Anh muốn biết về sức mạnh ư? Đem lòng rộng lượng hiền hòa để giáo hóa người, dẫu đối với kẻ vô đạo cũng không báo thù báo oán, đó là sức mạnh của phương Nam. Người quân tử ở đấy. Mặc giáp cầm gươm, xông pha đánh giết, đến chết cũng không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Người cường bạo ở đấy’.”
Khí chất "Quân tử phương Nam" ấy chính là dân tộc tính chảy trong máu đồng bào ta đến tận hôm nay. Chúng ta tương thân tương ái, nhân tính thiện lương, giúp đỡ nhau vô điều kiện trong bão lũ, thiên tai. Chúng ta gan dạ đến mức được gọi đùa là "tò mò không sợ chết", hay nói gay gắt hơn là "điếc không sợ súng", nguy hiểm vẫn lao vào xông pha để cứu người, cứu nước.
Đặc biệt, người phương Nam dẫu bị đô hộ, bị giết chóc, nhưng không bao giờ giữ thù oán hẹp hòi. Kể cả với kẻ thù dân tộc, chỉ cần họ có thiện chí làm hòa, dân tộc ta sẵn sàng gác lại thù oán sang một bên để làm bạn. Điều này đối lập hoàn toàn với tính cách của người Hoa Hạ: Luôn ỷ thế nước lớn, dùng cường bạo để áp bức kẻ cô yếu.
4. Giải mã kỳ tích: Tại sao người Việt không bị đồng hóa?
Những vùng đất phương Nam rộng lớn như Vân Nam, Hải Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến... mặc dù cách xa Trung Nguyên vạn dặm, nhưng sau khi bị Hoa Hạ xâm chiếm đều dần dần bị đồng hóa sạch sẽ. Ngay cả lịch sử cận đại cuối nhà Minh, người Mãn Châu hùng mạnh kéo quân xuống đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ, cai trị người Hán lập ra nhà Thanh, nhưng cuối cùng chính người Mãn Châu lại bị người Hán đồng hóa ngược, mất luôn cả chữ viết và tiếng nói.
Thế nhưng, điều thần kỳ của nhân loại là: Người Việt trải qua tới hơn 1.000 năm Bắc thuộc lại không hề bị đồng hóa! Để nền tảng văn hóa dân tộc ta đứng vững như bàn thạch trước mưu đồ diệt chủng, cần phải hiểu quy luật: Mưu đồ đồng hóa một dân tộc sẽ thất bại thảm hại nếu dân tộc bị trị hội tụ đủ 3 yếu tố sau:
Có sức sống sinh học và sức sống xã hội mãnh liệt: Tổ tiên ta là mục tiêu tàn sát, nhưng đã tẩu thoát và "an cư" thành công ở mảnh đất Lạc Việt, sinh sôi nảy nở mạnh mẽ.
Có trình độ văn hóa và nền văn minh cao hơn (hoặc ngang hàng) với dân tộc đi đồng hóa: Chúng ta đã đúc trống đồng, đã có văn minh lúa nước rực rỡ từ trước khi kẻ thù vác gươm sang đòi "giáo hóa man di". Việc hội tụ tinh hoa văn hóa Bách Việt, Thục và cả Hoa Hạ khiến văn minh của ta thực chất vượt trội hơn những kẻ tự xưng là "thượng quốc".
Có tổ chức xã hội tốt, cố kết các thành viên bền chặt: Chính sử Trung Quốc đã phải ghi chép rất rõ về thời đại Hùng Vương. Người Việt ta đã có nhà nước, có chính quyền, có ý thức đồng bào chặt chẽ từ thuở bình minh của lịch sử.
Chỉ cần văn hóa còn, dân tộc cứ trường tồn mãi!
5. Mặt trận ngôn ngữ: Mượn gươm giặc để giữ hồn ta
Trong 1.000 năm tăm tối đó, người Việt có thể không có chữ viết (hoặc chữ viết đã bị đốt sạch, cướp sạch). Tuy nhiên, điều kỳ lạ bậc nhất là tổ tiên ta vẫn giữ nguyên vẹn được ngôn ngữ mẹ đẻ (kho từ vựng, cách phát âm, ngữ pháp, cấu trúc câu).
Người Việt vô cùng thông minh. Nhận ra ngôn ngữ là công cụ của tư duy, mất tiếng nói là mất não, tổ tiên ta đã tương kế tựu kế: Học chữ của người Hán để lưu giữ tiếng nói của dân tộc mình, nhưng cương quyết giữ nguyên cách tư duy ngôn ngữ Việt. Họ khôn khéo tước đoạt "kho" Hán ngữ, nhào nặn nó thành "kho" Hán - Việt để làm giàu cho ngôn ngữ của chính mình.
Hãy nhìn xem, những từ cửa miệng ta hay dùng ngày nay như: vô duyên, lãng mạn, bá đạo, triền miên, mạch lạc, la liệt... bản chất là từ gốc Hán 100%. Nhưng ông cha ta đã thu thập, ép chúng tuân theo ngữ âm và luật lệ của tiếng Việt để biến thành vốn từ của ta.
Đây là kỳ tích mà các nhóm dân tộc thuộc Bách Việt xưa ở vùng Nam Trung Quốc không bao giờ làm được. Người Quảng Đông (Nam Việt), Phúc Kiến (Mân Việt), Vân Nam (Điền Việt) đã mất trắng ngôn ngữ "gốc". Họ bị Trung Hoa đồng hóa triệt để, nay chỉ còn là một phương ngữ phát âm khác đi của tiếng Hán.
Văn hóa ta nền tảng vững chắc đến thế, nên tiên quyết mỗi người dân Việt Nam ngày nay phải tự mình giữ gìn gốc rễ. Tây nó giỏi, nó giàu — điều này mình phải công nhận. Cái gì tốt thì ta tiếp thu có chọn lọc để tổng hòa lại, khiến dân tộc mình ưu tú lên. Hòa nhập chứ đừng hòa tan! Mất gốc đến độ quên luôn cội nguồn, nhận giặc làm cha thì chẳng có gì vui vẻ cả.
6. Thể chế Việt Nam hiện đại: Tinh hoa nhân loại trên nền tảng Dân tộc
Từ cái nôi Bách Việt kiên cường ấy, khi nhìn vào chế độ chính trị nước ta ngày nay do Cụ Hồ dày công lèo lái, ta sẽ thấy một sự thật thú vị. Nếu bảo nước ta là "Cộng sản thuần túy" thì hoàn toàn sai lầm.
Chế độ nước ta là sự kết tinh, hấp thu những gì tinh hoa nhất của các thể chế vĩ đại trên thế giới. Ngay trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nhà nước, Cụ Hồ đã trực tiếp trích dẫn giá trị "Tự do - Bình đẳng - Bác ái" của Cách mạng Tư sản Pháp: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi..."; trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của cách mạng Mỹ về nhân quyền: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền... quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".
Hay nhìn ngay vào tiêu ngữ quốc gia dưới Quốc hiệu, mỗi khi dân ta làm đơn từ đều trịnh trọng viết: "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc". Đây chính là kết tinh từ Chủ thuyết Tam Dân của Tôn Trung Sơn (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc).
Bề ngoài, thế giới gọi Việt Nam là nước Cộng sản, nhưng phải nói một cách thấu đáo và chính xác nhất: Chế độ của ta là Dân tộc chủ nghĩa, được dẫn dắt bởi những con người có phẩm chất Cộng sản kiên trung, biết kết hợp với mọi thành tựu tinh hoa của thời đại (bất kể tư tưởng nào) với một mục đích tối thượng duy nhất: Làm cho dân giàu, nước mạnh.
Nhìn lại hành trình lịch sử, từ việc phải tháo chạy khỏi giặc xâm lược, đấu tranh ròng rã suốt bốn ngàn năm để giữ vững mảnh đất cuối trời phương Nam của lãnh thổ Bách Việt; Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ vứt bỏ dòng máu của mình. Nước Việt Nam hiện đại chính là truyền nhân xứng đáng nhất, tiếp nối truyền thống văn minh Bách Việt rực rỡ, phát huy cao độ lòng yêu nước, thương nòi. Chúng ta hoàn toàn có quyền ngẩng cao đầu tự hào về ngọn lửa văn hóa bất diệt mà tổ tiên đã trao truyền lại!
Tác giả: Chu Đức Thuận