Cải cách ruộng đất là như thế nào, hiểu sao cho đúng ?
Cải cách ruộng đất là như thế nào, hiểu sao cho đúng ?
Dưới góc nhìn của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận biện chứng, cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam không thể giành thắng lợi trọn vẹn nếu chỉ dừng lại ở việc đánh đuổi ngoại xâm mà không giải quyết triệt để mâu thuẫn giai cấp trong lòng xã hội. Trong tiến trình đó, Cải cách ruộng đất (1953-1956) hiện lên như một cơn bão táp cách mạng tất yếu, một cuộc can qua rung chuyển tận gốc rễ cấu trúc xã hội phong kiến đã bám rễ ngàn năm. Đây không chỉ là một chính sách kinh tế, mà là một bước ngoặt chính trị vĩ đại, tạo ra động lực vô song góp phần quyết định vào chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), kiến tạo hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, và đặt nền móng cho toàn bộ công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa sau này.
Bất chấp những sai lầm đau xót trong quá trình thực thi, ý nghĩa lịch sử và thành tựu của Cải cách ruộng đất là một chân lý không thể phủ nhận. Để đánh giá toàn diện, khách quan và đập tan những luận điệu xét lại lịch sử, chúng ta cần đặt sự kiện này vào đúng tọa độ không gian và thời gian của nó, với những tư liệu chính thống được ghi nhận trong Hồ Chí Minh Toàn tập.
Trước năm 1945, xã hội Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Đặc trưng tàn khốc nhất của nó là sự bất bình đẳng cực đoan trong quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất chính: Ruộng đất. Theo các số liệu lịch sử thống kê, giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân chỉ chiếm chưa tới 5% dân số nhưng lại nắm giữ quyền sở hữu và chi phối hơn 70% diện tích ruộng đất canh tác. Trong khi đó, hơn 90% nông dân Việt Nam rơi vào cảnh bần nông, cố nông, không có mảnh đất cắm dùi, phải chịu cảnh bóc lột tô tức nặng nề từ 50% đến 70% hoa lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc rằng, cách mạng giải phóng dân tộc không thể tách rời cách mạng ruộng đất. Trong Hồ Chí Minh Toàn tập (Tập 8, bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 1953, và xuyên suốt các chỉ đạo năm 1954), Người nhấn mạnh: "Nông dân là quân chủ lực của cách mạng... Chừng nào nông dân chưa được giải phóng, chừng nào nông dân chưa có ruộng đất, thì chừng đó cách mạng chưa thể thành công hoàn toàn".
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn cầm cự và tổng phản công đòi hỏi sức người, sức của khổng lồ. Lực lượng chủ yếu cung cấp máu xương và lương thực cho tiền tuyến chính là nông dân. Làm sao có thể đòi hỏi người nông dân xả thân bảo vệ một chế độ mà ở đó, họ vẫn là những kẻ nô lệ trên chính mảnh đất của cha ông mình? Do đó, việc ban hành và thực thi Luật Cải cách ruộng đất không phải là một sự lựa chọn mang tính thời điểm, mà là một điều kiện tiên quyết mang tính sống còn. Nó nhằm đập tan quan hệ sản xuất phong kiến, giải phóng lực lượng sản xuất, biến khẩu hiệu "Người cày có ruộng" thành hiện thực.
Sự thành công của Cải cách ruộng đất (bắt đầu thí điểm từ năm 1953 và đẩy mạnh trong năm 1954) đã lập tức tạo ra một sức mạnh vật chất và tinh thần vĩ đại chưa từng có. Bằng việc tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng đất của giai cấp địa chủ để chia cho bần nông và cố nông, Đảng và Chính phủ đã làm một cuộc hoán cải vị thế xã hội triệt để. Hơn 81 vạn héc-ta ruộng đất, hàng chục vạn trâu bò, hàng triệu nông cụ đã được trao về tay những người trực tiếp làm ra của cải.
Hành động này đã giải phóng một nguồn năng lượng cách mạng khổng lồ. Hàng triệu nông dân miền Bắc, lần đầu tiên trong lịch sử ngàn năm, được cầm trên tay tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu mảnh ruộng của riêng mình, được làm chủ vận mệnh của mình. Chính niềm hân hoan và lòng biết ơn vô hạn đối với Đảng, với Bác Hồ đã hóa thành sức mạnh nơi tiền tuyến.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử (1954), hàng vạn dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong đã bất chấp bom đạn, trèo đèo lội suối tiếp lương, tải đạn. Họ đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu với một tâm thế hoàn toàn mới: Tâm thế của những người làm chủ đất nước. Họ hiểu rằng, bảo vệ nền độc lập dân tộc cũng chính là bảo vệ mảnh ruộng, con trâu, mái nhà mà cách mạng vừa mang lại cho họ. Không có cuộc cách mạng ruộng đất ở hậu phương, sẽ không thể có đủ khối lượng hậu cần khổng lồ và ý chí quyết chiến quyết thắng để làm nên một "Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Thành công của Cải cách ruộng đất không chỉ dừng lại ở năm 1954 mà còn là bệ phóng cho toàn bộ giai đoạn sau này. Việc xóa bỏ vĩnh viễn giai cấp địa chủ phong kiến đã dọn đường cho việc thiết lập quan hệ sản xuất mới ở miền Bắc. Sau khi có ruộng, nông dân miền Bắc đã nhiệt tình tham gia vào phong trào hợp tác hóa nông nghiệp. Dù mô hình hợp tác xã sau này có những hạn chế nhất định và cần đến công cuộc Đổi Mới (Khoán 10) để hoàn thiện, nhưng ở thời điểm lịch sử đó, nó là phương thức duy nhất để tập trung nguồn lực.
Miền Bắc được củng cố vững chắc nhờ nền tảng nông thôn được giải phóng, trở thành "hậu phương lớn" cho "tiền tuyến lớn" miền Nam trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ. Những người mẹ, người vợ ở nông thôn đã "Ba đảm đang", tay cày tay súng, vừa sản xuất lương thực chi viện cho chiến trường, vừa kiên cường chống trả chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Nguồn lúa gạo chắt chiu từ những mảnh ruộng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã nuôi sống hàng triệu cán bộ, chiến sĩ dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh. Nếu mâu thuẫn giai cấp ở nông thôn không được giải quyết từ những năm 1953-1956, miền Bắc sẽ không bao giờ có đủ sự ổn định chính trị, sự đồng thuận xã hội và năng lực kinh tế để gánh vác sứ mệnh vĩ đại ấy.
Khi nhìn lại một biến cố lịch sử mang tính vĩ mô, chúng ta không thể dùng lăng kính vi mô của thời bình, với những tiêu chuẩn nhân quyền của thế kỷ 21, để phán xét những quyết định mang tính sống còn của một dân tộc đang đứng giữa lằn ranh sinh tử.
Khi bí lý lẽ, bọn chúng lại cào mả lịch sử lên và nhai đi nhai lại khúc ca "Cải cách ruộng đất". Đúng, đó là một sai lầm, một vết sẹo đau đớn mà chính Đảng và Nhà nước đã công khai xin lỗi, tích cực sửa sai ngay sau đó. Những bi kịch oan khuất của gia đình cụ Đặng Văn Hướng (thân sinh Trung tá Đặng Văn Việt) là hệ quả xót xa của một thời kỳ mà sự phẫn nộ của đám đông bần nông bị đè nén ngàn năm bỗng chốc vỡ bờ.
Nhưng hãy nhìn vào bản chất của bức tranh lớn: Suốt hàng thế kỷ, 99% bần nông bị trói buộc, bóc lột đến tận xương tủy bởi 1% tầng lớp địa chủ, phong kiến tay sai. Trong thời khắc sinh tử của dân tộc, để giải phóng hàng triệu nông dân, để bộ đội có cơm ăn mà cầm súng đánh Pháp, đánh Mỹ, một cuộc cách mạng lật đổ quan hệ sản xuất cũ là điều kiện tiên quyết và tàn khốc bắt buộc phải xảy ra. Việc hy sinh lợi ích của thiểu số 1% để mang lại ruộng đất, tự do và sức mạnh đại đoàn kết cho 99% nhân dân bần hàn là một bài toán lịch sử. Bọn rận chủ gào thét gọi đó là tội ác, nhưng chúng lờ đi sự thật rằng: Chính 99% quần chúng nhân dân ấy, sau khi có ruộng có trâu, đã tình nguyện đi theo Đảng, theo Bác Hồ, dùng máu thịt của mình bảo vệ chính quyền. Nhân dân không ngu muội đến mức đi bảo vệ một "tội ác". Họ bảo vệ thế lực duy nhất trong lịch sử dám mang lại miếng cơm manh áo thực sự cho họ.
Lịch sử của mọi cuộc cách mạng trên thế giới - từ Cách mạng Pháp 1789, Cách mạng Nga 1917, đến cuộc Nội chiến Mỹ xóa bỏ chế độ nô lệ - đều đi kèm với sự trả giá tàn khốc khi hệ thống cũ bị đập bỏ. Cải cách ruộng đất ở Việt Nam là sự va đập tất yếu giữa khát vọng giải phóng của những con người dưới đáy xã hội và thế lực áp bức cũ. Tính bạo liệt của nó không xuất phát từ bản chất của Đảng, mà xuất phát từ sự dồn nén nghẹt thở của hàng trăm năm bị bóc lột tàn tệ.
Đánh giá khách quan nghĩa là không được lẩn tránh sự thật. Trong quá trình tổ chức thực hiện Cải cách ruộng đất, do chủ quan, giáo điều, rập khuôn máy móc kinh nghiệm nước ngoài, và do sự buông lỏng kiểm tra, những sai lầm nghiêm trọng mang tính "tả khuynh" đã diễn ra. Việc cường điệu hóa đấu tranh giai cấp, mở rộng diện vạch mặt kẻ thù, đã dẫn đến những oan sai vô cùng đau xót. Nhiều địa chủ kháng chiến, tầng lớp phú nông, trung nông, thậm chí là cán bộ đảng viên trung kiên đã bị quy kết sai lầm, bị đấu tố và xử lý oan uổng.
Tuy nhiên, thái độ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trước những sai lầm này mới chính là minh chứng vĩ đại nhất cho bản chất của một tổ chức chính trị chân chính, vì nước vì dân. Không bao che, không lấp liếm. Trong Hồ Chí Minh Toàn tập (Tập 10, năm 1956), tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa II), Đảng ta đã công khai thừa nhận sai lầm.
Trong Thư gửi đồng bào nông dân và cán bộ nhân ngày kết thúc thắng lợi Cải cách ruộng đất ở miền Bắc (tháng 8/1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thẳng thắn viết: "Tuy Cải cách ruộng đất là thắng lợi căn bản, nhưng chúng ta đã phạm nhiều khuyết điểm sai lầm nghiêm trọng trong việc thực hiện chính sách... Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm đó, và đã có kế hoạch kiên quyết sửa chữa".
Đích thân Bác Hồ đã rơi những giọt nước mắt xót xa trước quốc dân đồng bào. Sự hối lỗi chân thành và chiến dịch "Sửa sai" diễn ra ngay sau đó là một nỗ lực khổng lồ nhằm phục hồi danh dự, tài sản và sinh mạng chính trị cho những người bị oan sai. Những cán bộ vi phạm bị thi hành kỷ luật, Tổng Bí thư Trường Chinh đã thẳng thắn nhận trách nhiệm và từ chức. Đây là một bài học đắt giá về xây dựng Đảng, về quản lý nhà nước, và về việc bảo đảm tính thực tiễn, tránh giáo điều trong đường lối lãnh đạo. Nhờ công cuộc sửa sai quyết liệt, chân thành và thấu tình đạt lý, Đảng đã giữ vững được khối đại đoàn kết toàn dân, khôi phục được niềm tin của quần chúng, tiếp tục vững tay chèo lái con thuyền cách mạng qua những giai đoạn giông bão nhất.
Trải qua độ lùi của thời gian hơn nửa thế kỷ, khi lớp bụi mù của định kiến và cảm xúc cá nhân lắng xuống, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn: Cải cách ruộng đất là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn, là một mũi tiến công xuất sắc hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân chủ phản phong.
Thứ nhất, về mặt kinh tế: Nó xóa bỏ vĩnh viễn chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến đã lỗi thời, trao quyền làm chủ tư liệu sản xuất cho hàng triệu nông dân, giải phóng sức lao động vĩ đại, mở đường cho sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam.
Thứ hai, về mặt chính trị: Nó đập tan bộ máy thống trị của giai cấp địa chủ ở nông thôn, thiết lập và củng cố vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân. Khối liên minh công - nông, nền tảng cốt lõi của nhà nước cách mạng, được củng cố và tôi luyện qua thử thách thực tiễn.
Thứ ba, về mặt xã hội và tư tưởng: Nông dân được giải phóng khỏi sự nô dịch ngàn đời về cả thể xác lẫn tinh thần. Họ không chỉ thoát khỏi đói nghèo triền miên mà còn được nâng lên một tầm cao mới: Là người làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ đất nước. Chính sự lột xác về thân phận này đã tạo ra nguồn sức mạnh vô tận để họ chiến đấu, hy sinh, làm nên những chiến thắng vĩ đại giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Cuộc Cải cách ruộng đất, với cả những vinh quang chói lọi và những vết sẹo rớm máu, là một bức tranh bi tráng nhưng hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam. Những sai lầm vấp phải là cái giá quá đắt của sự thiếu kinh nghiệm trong quá trình dò đá qua sông của một nhà nước non trẻ. Song, giá trị cốt lõi, nhân bản và cách mạng của nó là điều bất diệt. Nó đã chặt đứt gông xiềng của chế độ phong kiến thối nát, giải phóng tuyệt đại đa số nhân dân lao động, và kiến tạo một nền tảng xã hội hoàn toàn mới. Mọi âm mưu lợi dụng những sai sót cục bộ để phủ nhận thành quả vĩ đại của Cải cách ruộng đất đều là sự thao túng lịch sử đê hèn. Lịch sử đã gọi tên Cải cách ruộng đất như một cuộc "đại phẫu thuật" mang tính sống còn, đau đớn nhưng thiết yếu, để dân tộc Việt Nam tái sinh, đứng lên và rảo bước kiêu hãnh tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
Trường hợp của bà Nguyễn Thị Năm (tức Cát Thành Long) tại Thái Nguyên chính là "tâm bão" của mọi luồng dư luận xét lại, là mũi nhọn sắc bén nhất mà các thế lực thù địch, phản động luôn sử dụng để công kích vào tính chính danh của Đảng và thành quả của cuộc cách mạng.
Để không bị "dắt mũi" bởi những luận điệu kích động, chúng ta cần dùng phương pháp luận duy vật biện chứng để mổ xẻ vấn đề. Nhận thức đúng đắn không có nghĩa là lấp liếm sai lầm, mà là nhìn thẳng vào sự thật lịch sử, đặt nó vào đúng bối cảnh, và bóc trần thủ đoạn đánh tráo khái niệm của những kẻ mang dã tâm chính trị. Dưới đây là bản biện luận chi tiết để hiểu rõ, hiểu đúng và đập tan những xuyên tạc xoay quanh biến cố lịch sử này:
Trước hết, những người cộng sản chân chính và lịch sử chính thống không bao giờ phủ nhận công lao của bà Nguyễn Thị Năm. Bà là một tư sản, một địa chủ yêu nước, từng đóng góp hàng nghìn lạng vàng trong "Tuần lễ Vàng", che giấu, nuôi dưỡng nhiều cán bộ cấp cao của cách mạng trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ.
Việc bà Nguyễn Thị Năm bị đem ra đấu tố và trở thành người đầu tiên bị xử bắn trong chiến dịch Cải cách ruộng đất tại Thái Nguyên (năm 1953) là một sai lầm vô cùng nghiêm trọng, một bi kịch lịch sử đau xót. Tuy nhiên, bi kịch này xuất phát từ đâu? Nó tuyệt đối không xuất phát từ "sự vô ơn, tráo trở" của Đảng như luận điệu phản động rêu rao. Nó là hệ quả của:
- Bệnh rập khuôn, máy móc và áp lực từ cố vấn nước ngoài: Trong bối cảnh phong trào quốc tế lúc bấy giờ, việc áp dụng cứng nhắc lý luận đấu tranh giai cấp, "trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ", cộng với áp lực lớn từ các cố vấn (những người mang tư duy giáo điều, không thấu hiểu đặc thù của giai cấp địa chủ yêu nước tại Việt Nam) đã dẫn đến việc đẩy sai lầm đi quá xa.
- Sự cực đoan của đám đông bần nông: Khi hàng triệu nông dân bị đè nén ngàn năm bỗng chốc được trao quyền sinh sát, ngọn lửa căm phẫn giai cấp đã bùng lên không thể kiểm soát ở cơ sở, dội ngược lên trên, dẫn đến những hành động quá khích, bất chấp công lý và lý trí. Đội cải cách ở địa phương đã hoạt động với tư duy hẹp hòi, tả khuynh, vượt khỏi tầm kiểm soát của Trung ương.
Bác Hồ đã có thái độ như thế nào? Lịch sử ghi nhận rất rõ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức can ngăn việc tử hình bà Năm. Người từng nói đại ý rằng: Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách bắn một người đàn bà, mà người ấy lại là ân nhân của cách mạng. Nhưng trong một guồng máy đang lao đi với quán tính khổng lồ của bạo lực giai cấp, tiếng nói dung hòa của Người đã không thể đảo ngược được tình thế cục bộ lúc bấy giờ.
Phe phản động dắt mũi dư luận bằng cách nào? Chúng sử dụng một thủ đoạn cực kỳ tinh vi trong thao túng tâm lý: Lấy một bi kịch cá nhân để phủ định toàn bộ một trào lưu vĩ mô của lịch sử.
- Thủ đoạn thứ nhất: Kích động cảm xúc để che mờ lý trí. Chúng kể đi kể lại chi tiết về cái chết của bà Năm với những từ ngữ bi thương nhất, nhằm kích thích lòng trắc ẩn của người đọc. Khi người ta rơi vào trạng thái phẫn nộ, cảm xúc, người ta sẽ dễ dàng chửi rủa cả một chế độ. Chúng cố tình lờ đi thực tế: Để có một nước Việt Nam độc lập hôm nay, máu của hàng triệu liệt sĩ đã đổ xuống, và hàng triệu bần nông phải được giải phóng để làm nên sức mạnh đó.
- Thủ đoạn thứ hai: Gắn mác "Bản chất vô ơn" cho chế độ. Chúng dùng vụ án bà Năm để vẽ ra một bức tranh giả tạo rằng Đảng Cộng sản "qua cầu rút ván", "giết người có công". Chúng che giấu sự thật rằng ngay sau khi nhận ra sai lầm, Đảng đã lập tức tiến hành chiến dịch "Sửa sai", phục hồi danh dự cho bà Nguyễn Thị Năm và gia đình, cũng như hàng ngàn trường hợp oan sai khác. Một tổ chức mang bản chất vô ơn sẽ không bao giờ công khai khóc trước nhân dân và tự tước bỏ chức vụ Tổng Bí thư (Trường Chinh) để nhận trách nhiệm như vậy.
- Thủ đoạn thứ ba: Phủ định sạch trơn ý nghĩa của Cải cách ruộng đất. Bằng cách xoáy sâu vào bà Năm, chúng muốn người đời sau tin rằng toàn bộ chiến dịch Cải cách ruộng đất chỉ là một cuộc "tắm máu" điên rồ, vô nghĩa. Chúng tuyệt đối không dám đả động đến con số hàng vạn héc-ta ruộng đất đã được trao lại cho những người bần nông gầy gò, rách rưới, những người nhờ có miếng đất ấy mới đủ sức cầm súng bảo vệ Tổ quốc.
Để đứng vững trước ma trận thông tin, người tiếp nhận cần xác lập một hệ quy chiếu tư duy lịch sử rành mạch:
Một là, nhìn nhận lịch sử bằng lăng kính khách quan, không trốn tránh vết thương.
Chúng ta thẳng thắn thừa nhận cái chết của bà Nguyễn Thị Năm là một vết đen, một bài học xương máu về sự giáo điều và tả khuynh. Không có cuộc sinh đẻ nào không đau đớn, và không có một cuộc cách mạng kinh thiên động địa nào lật đổ cấu trúc ngàn năm lại không để lại những hệ lụy đau xót. Thừa nhận nó là cách tốt nhất để tước đi vũ khí của những kẻ cơ hội chính trị.
Hai là, rạch ròi giữa "Sai lầm cục bộ" và "Đường lối vĩ mô".
Cuộc phẫu thuật cắt bỏ khối u phong kiến là hoàn toàn đúng đắn và bắt buộc phải làm để cứu sống cơ thể dân tộc. Vụ án bà Năm là nhát dao đi chệch của người bác sĩ, làm tổn thương một tế bào lành. Người bác sĩ (Đảng) đã nhận lỗi và chịu trách nhiệm. Không thể vì một nhát dao chệch mà nói rằng cuộc phẫu thuật đó là tội ác, và càng không thể kết luận rằng đáng lẽ nên giữ lại khối u phong kiến để mặc cho cơ thể dân tộc chết dần chết mòn dưới gót giày thực dân.
Ba là, trân trọng công lý muộn màng nhưng sòng phẳng.
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đã minh oan, phục hồi danh dự hoàn toàn cho gia đình bà Nguyễn Thị Năm. Những đóng góp của bà cho dân tộc đã được lịch sử ghi nhận sòng phẳng, chính danh. Điều này minh chứng cho sự tự soi, tự sửa của một chế độ có trách nhiệm với nhân dân. Kẻ phản động cứ bám lấy quá khứ để rủa xả, trong khi chính lịch sử và những người trong cuộc đã được xoa dịu và hướng tới tương lai.
Kết luận: Đừng để những bài báo nặc danh, những diễn đàn của các tổ chức lưu vong biến sự thương cảm của bạn dành cho một cá nhân thành vũ khí để chống lại đất nước. Sự hy sinh oan khuất của bà Nguyễn Thị Năm là điều chúng ta mãi mãi xót xa và ghi nhớ như một bài học quản trị quốc gia đắt giá. Nhưng hãy tỉnh táo để hiểu rằng: Bi kịch cá nhân đó nằm trong một cơn đau chuyển dạ vĩ đại của toàn dân tộc.
Vượt qua những đau đớn, đổ vỡ, Cải cách ruộng đất đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử bất khả thi của nó: Trả lại ruộng đất cho hàng triệu nông dân, đập tan ách áp bức phong kiến, tạo ra sức mạnh dời non lấp biển để Việt Nam chiến thắng hai đế quốc sừng sỏ nhất thế giới. Đó là chân lý lịch sử tối thượng mà không một thế lực xét lại nào có thể xuyên tạc hay bẻ cong !
Tiếp nối trường hợp của bà Nguyễn Thị Năm, bi kịch của gia đình cụ Đặng Văn Hướng (thân sinh "Hùm xám đường số 4" Đặng Văn Việt) và cụ Đặng Xuân Viện (thân sinh Tổng Bí thư Trường Chinh) chính là những trang sử đau đớn nhất, là đỉnh điểm của "cơn lốc tả khuynh" trong Cải cách ruộng đất. Các thế lực phản động, cơ hội chính trị thường xuyên đào bới hai trường hợp này để nhào nặn ra luận điệu: "Cộng sản tàn ác đến mức giết cả cha của anh hùng, đấu tố cả cha của Tổng Bí thư", từ đó gieo rắc sự hoài nghi, bôi đen toàn bộ hệ thống chính trị.
Để không bị dắt mũi bởi những thủ đoạn đánh tráo khái niệm này, chúng ta cần bản lĩnh chính trị vững vàng, soi chiếu sự kiện bằng phương pháp luận duy vật lịch sử để bóc tách: Đâu là bi kịch của sai lầm đường lối, đâu là dã tâm xuyên tạc của kẻ thù.
Chúng ta không lẩn tránh sự thật lịch sử. Hai trường hợp này là những sai lầm nghiêm trọng không thể bao biện.
Cụ Đặng Văn Hướng: Là một bậc đại trí thức, cựu Thượng thư triều Nguyễn nhưng mang nặng lòng yêu nước. Khi Cách mạng tháng Tám thành công, cụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra làm Quốc vụ khanh (Bộ trưởng không bộ) trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Con trai cụ, Trung tá Đặng Văn Việt, là một huyền thoại quân sự, người khiến quân Pháp kinh hồn bạt vía trên đường số 4. Thế nhưng, trong cơn say đấu tố tại Nghệ An, cụ bị quy là địa chủ phong kiến, bị đối xử tàn tệ và qua đời trong tủi nhục.
Cụ Đặng Xuân Viện: Là một nho sĩ yêu nước ở làng Hành Thiện (Nam Định), và cay đắng thay, lại chính là thân sinh của đồng chí Trường Chinh – Tổng Bí thư của Đảng lúc bấy giờ, người đang trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Cải cách ruộng đất. Cụ Viện cũng không thoát khỏi vòng xoáy đấu tố của Đội cải cách tại địa phương và đã gục ngã trước những sức ép kinh hoàng đó.
Đây là nỗi đau xé lòng của cả dân tộc và của chính những người cộng sản. Nhưng vấn đề cốt lõi là: Vì sao một cựu Bộ trưởng Chính phủ, vì sao cha của một Tổng Bí thư đương nhiệm lại có thể bị đấu tố đến chết?
Phe phản động cố tình diễn dịch rằng đây là hành động có chủ đích, là sự "vắt chanh bỏ vỏ", là "bản chất tàn độc" của chế độ. Tuy nhiên, nếu dùng tư duy logic để phân tích, ta sẽ thấy sự thật chứng minh điều ngược lại.
Bi kịch của cụ Hướng và cụ Viện không xuất phát từ chỉ thị triệt hạ cá nhân của Trung ương, mà xuất phát từ sự sụp đổ mang tính hệ thống của tư duy pháp lý trước cơn cuồng nộ của bạo lực giai cấp ở cơ sở.
Thứ nhất, quyền lực tuyệt đối và mù quáng của "Đội cải cách":
Trong giai đoạn này, với tư duy giáo điều rập khuôn từ cố vấn nước ngoài, Trung ương đã trao "thượng phương bảo kiếm" cho các Đội cải cách ruộng đất cấp cơ sở. Lực lượng này chủ yếu là bần nông, bần cố nông – những người mang mối thù giai cấp ngùn ngụt ngàn đời nhưng lại hạn chế về nhận thức chính trị, thiếu nền tảng pháp luật. Khi được trao quyền sinh quyền sát, họ vận hành theo một nguyên lý cực đoan duy nhất: "Trí, phú, địa, hào – đào tận gốc, trốc tận rễ".
Thứ hai, sự tuyệt đối hóa "Thành phần giai cấp", xóa bỏ "Công lao cách mạng":
Căn bệnh tả khuynh đã tạo ra một thứ logic lạnh lùng: Chỉ cần anh xuất thân là địa chủ, quan lại, anh mặc nhiên là kẻ thù của nhân dân, bất chấp anh hay con cái anh đã cống hiến cho cách mạng ra sao. Công lao quá khứ bị gạt phăng trước nhãn mác giai cấp hiện tại. Cụ Hướng hay cụ Viện bị đem ra đấu tố đơn thuần vì họ rơi vào tệp "địa chủ, phong kiến" tại địa phương đó.
Thứ ba, sự bất lực cục bộ của hệ thống lãnh đạo cấp cao:
Việc cha của Tổng Bí thư Trường Chinh bị đấu tố chính là minh chứng đanh thép nhất phản bác lại luận điệu "Đảng cố tình hãm hại người tài". Nếu bộ máy đó vận hành vì tư lợi, vì sự tàn ác có chủ đích, thì chẳng có lý do gì gia đình của vị lãnh đạo quyền lực nhất Đảng lúc bấy giờ lại không được bao che. Trái lại, nó cho thấy bộ máy Cải cách ruộng đất lúc đó đã trở thành một "cỗ xe mất phanh" về mặt ý thức hệ. Ngay cả Tổng Bí thư cũng bị trói buộc bởi chính đường lối giáo điều do hệ thống đề ra, không thể dùng quyền lực cá nhân để can thiệp vào "sự nổi dậy của quần chúng".
Các thế lực thù địch dùng hai bi kịch này để thực hiện thủ đoạn thao túng tâm lý "Lấy giọt nước để phủ nhận đại dương".
Chúng đánh tráo "sai lầm phương pháp" thành "bản chất chế độ": Cuộc phẫu thuật nhổ bỏ chế độ phong kiến là đúng, nhưng lưỡi dao đã đi quá sâu, cắt vào cả những mạch máu yêu nước. Đó là sai lầm về phương pháp thực hành cách mạng và nhận diện lực lượng, hoàn toàn không phải là sự phản bội hay vô ơn mang tính bản chất của Đảng đối với nhân dân.
Chúng cố tình lờ đi thái độ "Tự phê bình và Sửa sai" vĩ đại: Nếu là một chế độ tàn độc vô lối, Đảng đã vùi lấp những sai lầm này. Nhưng không! Ngay khi nhận ra cơn lốc tả khuynh đã tàn phá xã hội như thế nào, Đảng đã lập tức đạp phanh. Hội nghị Trung ương 10 (Khóa II) năm 1956 là một sự kiện chấn động:
Đảng công khai xin lỗi toàn dân.
Tổng Bí thư Trường Chinh tự nhận trách nhiệm cá nhân lớn nhất và nộp đơn từ chức Tổng Bí thư. (Hành động từ chức của người đứng đầu vì sai lầm chính sách là minh chứng cho khí tiết và trách nhiệm chính trị cao cả nhất, điều mà bọn phản động luôn cố tình giấu nhẹm).
Các nạn nhân, trong đó có gia đình cụ Hướng, cụ Viện, đều được minh oan, phục hồi danh dự và tài sản.
Chúng xúc phạm chính những người trong cuộc: Dù mang nỗi đau mất cha, nhưng Trung tá Đặng Văn Việt vẫn tiếp tục cống hiến cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, vẫn giữ trọn vẹn lý tưởng cách mạng đến cuối đời. Gia đình Tổng Bí thư Trường Chinh vẫn là những người cộng sản kiên trung, đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn (chính Trường Chinh sau này là Tổng Công trình sư của công cuộc Đổi Mới 1986). Nhân cách lớn của những người trong cuộc vượt lên trên nỗi đau cá nhân để nhìn về đại cục dân tộc, nhưng lại bị phe phản động lợi dụng, nhân danh lòng xót thương giả tạo để chống phá chính lý tưởng mà các bậc tiền bối đã theo đuổi.
Trường hợp của cụ Đặng Văn Hướng và cụ Đặng Xuân Viện là những vết sẹo lịch sử không bao giờ được phép quên, bởi nó nhắc nhở những thế hệ lãnh đạo và nhân dân Việt Nam về sự tàn phá khủng khiếp của căn bệnh giáo điều, chủ quan, và sự nguy hiểm khi để cảm xúc đám đông đứng trên pháp luật.
Hiểu đúng về hai bi kịch này là để thấy rằng: Lịch sử cách mạng không phải là một dải lụa hồng. Nó thấm đẫm máu, nước mắt và cả những sai lầm nghiệt ngã từ sự non nớt của một Nhà nước trẻ tuổi đang phải dọn dẹp tàn tích ngàn năm của phong kiến trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt.
Bọn xét lại lịch sử rêu rao những cái tên này không phải vì chúng thương xót các cụ. Chúng chỉ coi nỗi đau của các gia đình liệt sĩ, cách mạng như những viên đạn để bắn vào chế độ hiện tại. Khi nhận thức rõ gốc rễ của vấn đề — sự va đập tàn khốc giữa lý luận máy móc và thực tiễn cách mạng — chúng ta sẽ xây dựng được một màng lọc miễn dịch vững chắc. Chúng ta cúi đầu xót thương và tri ân những người đã chịu oan khuất, nhưng tuyệt đối không cho phép bất cứ thế lực nào dùng máu của họ để bôi nhọ cơ đồ, vị thế và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc ngày hôm nay.
Một trong những thủ đoạn thâm độc nhất của giới truyền thông chống phá, các thế lực thù địch và những kẻ mắc bệnh "xét lại lịch sử" là bóp méo bản chất của công cuộc "Sửa sai" sau Cải cách ruộng đất. Bằng cách cố tình sử dụng từ "cách chức" hoặc "thanh trừng" để mô tả sự kiện đồng chí Trường Chinh thôi giữ chức Tổng Bí thư và đồng chí Lê Văn Lương thôi ủy viên Bộ Chính trị (năm 1956), chúng rắp tâm vẽ ra một bức tranh đen tối về sự "đấu đá quyền lực nội bộ" nhằm làm mất đi giá trị nhân văn và bản lĩnh tự phê bình vĩ đại của Đảng ta.
Dưới góc độ khoa học lịch sử và phương pháp luận chính trị, chúng ta cần phải minh định một cách rạch ròi, sòng phẳng và khoa học: Sự ra đi khỏi các vị trí hạt nhân lãnh đạo của đồng chí Trường Chinh và Lê Văn Lương hoàn toàn là quyết định "TỪ CHỨC" mang tính chủ động, thể hiện đỉnh cao của tinh thần trách nhiệm chính trị, tuyệt đối không phải là việc "BỊ CÁCH CHỨC" hay thanh trừng phe phái. Để đập tan luận điệu dắt mũi dư luận này, chúng ta cần biện luận sâu sắc qua các bình diện sau:
Trong khoa học tổ chức nhà nước và chính trị học, "Từ chức" và "Cách chức" mang hai bản chất hoàn toàn đối lập.
"Cách chức" (Dismissal / Purge): Là một hình thức kỷ luật mang tính áp đặt từ trên xuống, tước bỏ quyền lực của một cá nhân khi cá nhân đó vi phạm pháp luật, suy thoái đạo đức, hoặc là kết quả của một cuộc thanh trừng phe phái. Người bị cách chức là người thụ động chịu án kỷ luật, thường đi kèm với việc chấm dứt sinh mệnh chính trị.
"Từ chức" (Resignation): Là hành động chủ động, tự nguyện rút lui khỏi chức vụ của người lãnh đạo khi họ tự nhận thấy mình không hoàn thành nhiệm vụ, hoặc để xảy ra sai lầm nghiêm trọng trong lĩnh vực mình phụ trách. "Từ chức" là biểu hiện cao nhất của lòng tự trọng, sự liêm sỉ và văn hóa chịu trách nhiệm của người làm chính trị.
Bọn phản động cố tình đánh tráo hai khái niệm này để cào bằng Đảng ta với những chế độ độc tài, nơi sai lầm đồng nghĩa với những cuộc tắm máu và thanh trừng đối thủ. Việc gán ghép từ "cách chức" là một thủ đoạn thao túng ngôn từ hèn hạ để phủ nhận dũng khí của những người cộng sản chân chính.
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi nhận minh bạch diễn biến của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 (Khóa II) diễn ra vào tháng 9 năm 1956. Đây là hội nghị bàn về việc sửa sai trong Cải cách ruộng đất và Chỉnh đốn tổ chức.
Tại hội nghị này, trước bản báo cáo về những sai lầm nghiêm trọng, tả khuynh, gây tổn thất lớn đến tính mạng, tài sản và sinh mệnh chính trị của nhiều đảng viên, quần chúng yêu nước, đồng chí Trường Chinh đã tự kiểm điểm sâu sắc và chủ động làm đơn xin từ chức Tổng Bí thư.
Tương tự, đồng chí Lê Văn Lương – người chịu trách nhiệm chính trong việc thực hiện sai lầm đường lối "Chỉnh đốn tổ chức" (khiến nhiều đảng viên trung kiên bị hàm oan là phản động) – cũng chủ động xin rút khỏi Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Đồng chí Hoàng Quốc Việt cũng xin rút khỏi Bộ Chính trị.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xem xét, thảo luận và chấp thuận đơn từ chức của các đồng chí này. Hành động từ chức ở đỉnh cao quyền lực của đồng chí Trường Chinh là một "cơn địa chấn" về sự liêm chính lúc bấy giờ. Hãy thử hỏi, trong lịch sử chính trị thế giới, có bao nhiêu nhà lãnh đạo quyền lực nhất một đảng cầm quyền dám tự mình bước xuống khỏi đỉnh cao danh vọng để gánh vác trách nhiệm bằng máu và nước mắt trước nhân dân? Nếu không phải là một người cộng sản mang tư duy "dĩ công vi thượng" (đặt việc công lên trên hết) như Bác Hồ từng dạy, thì không một ai có thể đưa ra quyết định vĩ đại và đớn đau như thế.
Để vạch trần luận điệu cho rằng đây là cuộc "cách chức" hay "đấu đá quyền lực", chúng ta chỉ cần nhìn vào con đường chính trị của hai đồng chí ngay sau khi rời ghế quyền lực cao nhất:
Trường hợp đồng chí Trường Chinh: Nếu bị "cách chức" do thanh trừng, ông đã bị loại bỏ hoàn toàn khỏi bộ máy. Nhưng thực tế, sau khi thôi giữ chức Tổng Bí thư, Trung ương Đảng vẫn giữ ông lại làm Ủy viên Bộ Chính trị. Đảng đánh giá rõ: Sai lầm của Trường Chinh là sai lầm về nhận thức và phương pháp giáo điều, không phải là sự phản bội hay suy thoái. Với trí tuệ uyên bác, ông tiếp tục cống hiến ở các cương vị Phó Thủ tướng, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Vĩ đại hơn, 30 năm sau (năm 1986), chính con người từng từ chức vì sai lầm tả khuynh ấy lại được Ban Chấp hành Trung ương bầu lại làm Tổng Bí thư, trở thành "Tổng Công trình sư" khởi xướng công cuộc Đổi Mới, đưa đất nước thoát khỏi tư duy bao cấp giáo điều. Một nạn nhân của sự "cách chức, thanh trừng" có bao giờ được lịch sử và Đảng tôn vinh, trao lại trọng trách tối cao như vậy không? Tuyệt đối không!
Trường hợp đồng chí Lê Văn Lương: Sau khi từ chức khỏi Bộ Chính trị và Ban Bí thư, ông xuống làm Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng. Ông chấp nhận sự giáng cấp tự nguyện này và tiếp tục lặng lẽ cống hiến, lăn lộn cơ sở để chuộc lại lỗi lầm. Sau này, nhờ phẩm chất trong sáng và năng lực thực tiễn, ông được phục hồi, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và trở thành Bí thư Thành ủy Hà Nội, có những đóng góp to lớn cho Thủ đô trong những năm tháng chống Mỹ và khôi phục kinh tế.
Sinh mệnh chính trị của cả Trường Chinh và Lê Văn Lương không hề bị kết liễu, mà ngược lại, sự từ chức đã gột rửa tư tưởng của họ, đưa họ trở lại làm những người cộng sản chói lọi hơn, bám sát thực tiễn hơn.
Đưa sự kiện Cải cách ruộng đất lên bàn cân lịch sử, sai lầm là có thật, nỗi đau là có thật. Nhưng cách Đảng ta đối diện với sai lầm ấy là một mẫu mực của sự chân chính.
Việc đồng chí Trường Chinh và đồng chí Lê Văn Lương chủ động từ chức là một hành động mang tính biểu tượng vĩ đại về "văn hóa từ chức" và "trách nhiệm chính trị". Họ đã dùng chính sinh mệnh chính trị cá nhân của mình để làm vật tế, để xoa dịu nỗi đau của đồng bào, bảo vệ sự tồn vong của chế độ và uy tín của Đảng.
Khi phe phản động rêu rao hai chữ "cách chức", chúng đang cố gắng tước đoạt đi sự dũng cảm và nhân cách cao thượng của những người cộng sản tiền bối. Chúng muốn hậu thế nhìn lịch sử Đảng như một vũng lầy của những mưu hèn kế bẩn. Thế nhưng, sự thật lịch sử mang sức mạnh vô song. Hành động tự nhận lỗi, tự lùi bước trước nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh (khóc và xin lỗi quốc dân) và sự từ chức của Tổng Bí thư Trường Chinh mãi mãi là những bài học chói sáng về nền dân chủ nội bộ, về tinh thần tự phê bình nghiêm khắc và lòng trung thành tuyệt đối với lợi ích của nhân dân.
Hiểu đúng bản chất của sự từ chức này, chúng ta không chỉ miễn nhiễm trước mọi luận điệu dắt mũi của kẻ thù, mà còn có thêm niềm tin vững chắc vào một bộ máy dám nhìn thẳng vào vết thương, tự cầm dao mổ xẻ chính mình để tái sinh và dẫn dắt dân tộc tiến lên.
Tác giả: Chu Đức Thuận