Nhìn nhận Chủ Nghĩa Xã Hội sau nhiều năm
Nhìn nhận Chủ Nghĩa Xã Hội sau nhiều năm
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI NGÀY NAY
Nếu chúng ta lật lại những trang sử đầy biến động của giai đoạn 1985 - 1991, chúng ta sẽ thấy một bức tranh đầy giông bão và bi tráng của phong trào cộng sản quốc tế. Cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc tại Liên Xô cùng các nước Đông Âu đã tạo ra một cơn chấn động địa chính trị chưa từng có, kéo theo sự sụp đổ hàng loạt của các nhà nước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) tại lục địa già. Đứng trước cơn địa chấn đó, Chủ nghĩa Xã hội chịu sự bủa vây của vô vàn chỉ trích, đả kích từ các thế lực đối lập.
Nhưng điều đáng buồn và đáng tiếc nhất là ngay ở nước ta, ngay trong hàng ngũ những người cộng sản, đã xuất hiện những hiện tượng dao động mãnh liệt về lập trường. Một bộ phận không nhỏ đã nảy sinh tâm lý hoang mang, hoài nghi, thậm chí là những khuynh hướng xét lại, phủ định sạch trơn những thành quả vĩ đại mà Đảng và Bác Hồ đã dày công vun đắp bằng máu và nước mắt từ khi Đảng ra đời năm 1930. Sự dao động ấy nguy hiểm ở chỗ nó trực tiếp tấn công vào niềm tin cốt lõi, dẫn đến việc hoài nghi chính con đường tiến lên Chủ nghĩa Xã hội mà dân tộc ta đã lựa chọn.
Tuy nhiên, vàng thật không sợ lửa, và chân lý lịch sử luôn cần thời gian để minh chứng. Khi lớp bụi mù của sự sụp đổ đã lắng xuống, bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ 21, chúng ta có đủ độ lùi lịch sử, đủ sự bình tâm và khách quan để nhìn nhận thấu đáo hơn. Thực tiễn sinh động của thế giới và sự trỗi dậy mạnh mẽ của đất nước ta đã và đang chứng minh một chân lý không thể lay chuyển: Đi lên Chủ nghĩa Xã hội không phải là một sự áp đặt giáo điều hay ảo tưởng chủ quan, mà là một quy luật vận động tất yếu của lịch sử nhân loại. Hơn thế nữa, nền tảng vững chắc của Chủ nghĩa Xã hội chính là bệ phóng vĩ đại nhất để Việt Nam bước vào một kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – kỷ nguyên của sự hùng cường, thịnh vượng và công bằng tuyệt đối.
Về bản chất sâu xa, Chủ nghĩa Xã hội là một học thuyết triết học, kinh tế và chính trị do C.Mác và Ph.Ăng-ghen sáng lập, sau đó được V.I.Lênin phát triển và hiện thực hóa thành một mô hình nhà nước cụ thể. Khác biệt hoàn toàn và triệt để với mọi thể chế chính trị từng tồn tại trước đó trong lịch sử loài người – vốn dĩ chỉ được sinh ra để bảo vệ quyền lợi, duy trì sự thống trị và đặc quyền đặc lợi cho một nhóm thiểu số tinh hoa, quý tộc hay giới tư bản tài phiệt – nhà nước XHCN ra đời mang trên vai một sứ mệnh thiêng liêng chưa từng có: Đại diện, bảo vệ và duy trì lợi ích tối cao của giai cấp công nhân và đại đa số nhân dân lao động.
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng, đây là một nấc thang tất yếu trong sự tiến hóa của xã hội loài người. Dù việc áp dụng học thuyết này vào thực tế ở mỗi quốc gia, mỗi bối cảnh lịch sử có thể sản sinh ra nhiều mô hình khác nhau, và quá trình "dò đá qua sông" ấy chắc chắn không thể tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm (bởi lẽ chưa có một quốc gia nào đạt đến đích đến cuối cùng của Chủ nghĩa Cộng sản để làm mẫu mực tuyệt đối), nhưng những ưu điểm và di sản vĩ đại mà Chủ nghĩa Xã hội mang lại cho nhân loại là khối tài sản vô giá không một thế lực nào có thể chối bỏ hay bôi xóa.
Thứ nhất, Chủ nghĩa Xã hội là ngọn hải đăng của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Hãy nhìn thẳng vào sự thật lịch sử: Nếu không có Cách mạng Tháng Mười Nga rung chuyển địa cầu, nếu không có một nhà nước Liên Xô XHCN hùng cường đứng sừng sững làm điểm tựa, liệu các dân tộc bị áp bức đọa đày ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh có tìm thấy con đường và sức mạnh để vùng lên đánh đổ ách cai trị tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc?
Những cường quốc phương Tây tự xưng là "văn minh" như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hay Hoa Kỳ không bao giờ tự nhiên nảy sinh "lòng nhân đạo" để dâng trả nền độc lập cho các nước thuộc địa. Chính sức mạnh lan tỏa của phong trào cộng sản, sự viện trợ chí tình của khối XHCN, và tấm gương sáng chói của những quốc gia như Việt Nam đã buộc chủ nghĩa thực dân kiểu cũ phải cáo chung.
Nhìn lại nước Pháp ngày nay, họ vẫn tự hào khoác lên mình chiếc áo choàng cường quốc và ánh hào quang văn minh. Nhưng thực chất, sự phồn vinh đó chỉ phục vụ cho một bộ phận nhỏ trong xã hội. Về vị thế chính trị cốt lõi, quyền lực của họ đã suy giảm trầm trọng, nhiều lúc phải "nhìn sắc mặt" của các siêu cường như Hoa Kỳ hay Trung Quốc để định hình chính sách. Nguyên nhân sâu xa là gì? Đó là vì họ đã vắt kiệt sức lực khi cố bám víu và gặm nhấm những "khúc xương đã hóa thạch" của chủ nghĩa thực dân, tiêu biểu là thảm bại lịch sử tại Việt Nam. Nước Anh tỏ ra cáo già hơn khi chủ động rút lui bề ngoài, trao trả độc lập trên danh nghĩa cho phần lớn thuộc địa để thiết lập mô hình "Thịnh vượng chung", nhưng bản chất vẫn là duy trì sự ảnh hưởng ngầm trong vai trò một đồng minh phụ thuộc của Hoa Kỳ.
Sự thật cay đắng là, trước khi những kẻ đi xâm lược này buộc phải rời đi, họ đã cố tình gieo rắc vô vàn mầm mống bất ổn, những quả bom nổ chậm về tôn giáo, sắc tộc và lãnh thổ cho các nước cựu thuộc địa. Điển hình như Ấn Độ, một tiểu lục địa vốn thống nhất về mặt địa lý, đã bị người Anh lạnh lùng xé nát thành Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Hậu quả là những "đứa con" cùng chung dòng máu ấy vĩnh viễn rơi vào vòng xoáy thù hận, xung đột vũ trang và chạy đua vũ trang hạt nhân, trong khi người dân của họ tiếp tục gánh chịu nỗi đau chia cắt vô tận.
Bi đát hơn nữa là châu Phi. Lục địa đen sau khi thoát khỏi sự cai trị trực tiếp lại bị chia năm xẻ bảy thành vô số quốc gia với đường biên giới được vẽ bằng thước kẻ của người da trắng, bất chấp sự phân bố của các bộ tộc. Các cuộc nội chiến, diệt chủng triền miên hằng ngày tước đi sinh mạng của hàng triệu người vô tội. Khốn nạn và tinh vi nhất phải kể đến Pháp, khi họ vừa rêu rao về "tự do, bình đẳng, bác ái", vừa trói buộc các cựu thuộc địa châu Phi bằng thứ cùm gông mang tên "thuế thuộc địa" và quyền kiểm soát dự trữ ngoại hối, bòn rút tài nguyên đến tận xương tủy để nuôi dưỡng sự phồn vinh giả tạo của Paris.
Thứ hai, Chủ nghĩa Xã hội là người khởi xướng và bảo vệ các giá trị nhân quyền đích thực của người lao động. Những quyền lợi cơ bản mà ngày nay nhân loại coi là hiển nhiên – như ngày làm việc 8 tiếng, chế độ tiền lương tối thiểu, trả công làm thêm giờ, quyền lập hội đoàn, công đoàn để bảo vệ người lao động, hay các chính sách an sinh xã hội, nghỉ thai sản, chăm sóc y tế... – tất cả đều không phải là món quà từ trên trời rơi xuống. Khái niệm "Nhà nước phúc lợi" mà phương Tây thường tự hào rêu rao, bản chất chỉ là một sự vay mượn, một bước lùi chiến thuật, một sự thỏa hiệp bất đắc dĩ của giai cấp tư sản. Họ buộc phải ban phát những quyền lợi này để xoa dịu làn sóng đấu tranh giai cấp đang sục sôi trong lòng thế giới tư bản, bởi họ nơm nớp lo sợ sự lây lan của mô hình XHCN ưu việt đang hiện hữu ở phương Đông. Nếu không có Chủ nghĩa Mác và không có các nhà nước XHCN làm đối trọng, sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản hoang dã sẽ không bao giờ có điểm dừng.
Sự thoái trào của Chủ nghĩa Xã hội vào cuối thế kỷ 20 là một bi kịch lịch sử to lớn, nhưng nó tuyệt đối không chứng minh rằng học thuyết XHCN là sai lầm. Nó chỉ chứng minh rằng, bất cứ một hệ thống nào, dù ưu việt đến đâu, nếu rơi vào trạng thái xơ cứng, không chịu vận động và đổi mới, tất yếu sẽ bị đào thải.
Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu là kết quả của một quá trình tác động đan xen giữa các nguyên nhân chủ quan và khách quan kéo dài, chứ không hề đơn giản là do bản chất của chế độ. Nếu quy chụp mọi lỗi lầm cho Chủ nghĩa Xã hội, đó là một sự ngụy biện thiển cận và thiếu công bằng.
Về mặt chủ quan: Bộ máy lãnh đạo ở các nước này đã rơi vào tình trạng trì trệ thâm căn cố đế. Họ bảo thủ, giáo điều, bám víu vào mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp trong khi hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi sâu sắc. Việc chậm trễ tiến hành cải cách, hoặc tiến hành cải cách (như Perestroika) một cách hỗn loạn, chệch hướng, xa rời các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã đẩy nền kinh tế - xã hội vào vực thẳm. Đi kèm với đó là sự quan liêu, đứt gãy sự liên kết mật thiết giữa Đảng và quần chúng nhân dân.
Về mặt khách quan: Đây là thành quả của chiến lược "Diễn biến hòa bình" cực kỳ thâm độc của các thế lực thù địch phương Tây. Hoa Kỳ và đồng minh không bao giờ từ bỏ dã tâm tiêu diệt tận gốc Chủ nghĩa Cộng sản. Họ tiến hành một cuộc chiến tranh phi quy ước, không tiếng súng nhưng tàn khốc không kém, thông qua việc bao vây cấm vận, ép buộc chạy đua vũ trang để làm suy kiệt kinh tế đối phương, đồng thời liên tục kích động, bơm tiền cho các lực lượng bất mãn, phản động phá hoại từ bên trong.
Nói về nạn tham nhũng, độc tài hay cửa quyền, thực chất chế độ chính trị nào trên thế giới cũng phải đối mặt. Thậm chí, ở các nước tự xưng là "thế giới tự do", sự thao túng chính trị của các tập đoàn tư bản, sự vận động hành lang (lobby) bằng tiền bạc trị giá hàng tỷ đô la để mua chuộc chính sách mới là đỉnh cao của sự tham nhũng hợp pháp hóa. Tuy nhiên, với hệ thống truyền thông khổng lồ và nghệ thuật "xào nấu thông tin" bậc thầy, phương Tây cực kỳ lão luyện trong việc áp dụng "tiêu chuẩn kép" và "đạo đức giả". Họ che đậy những ung nhọt của xã hội tư bản một cách hoàn hảo, đồng thời phóng đại mọi sai lầm của các nước XHCN, nhào nặn ra một bức tranh giả tạo khiến người dân lầm tưởng rằng các giá trị phương Tây là thước đo chuẩn mực duy nhất của nhân loại. Họ cố tình phớt lờ một nguyên lý cơ bản: Thể chế chính trị phải do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của mỗi quốc gia quyết định, chứ không thể áp dụng máy móc, rập khuôn hay "đua đòi" theo một hình mẫu ngoại lai.
Khi phương Tây phá hoại thành công một quốc gia XHCN, kịch bản chung của chúng luôn là lập tức khoác lên mình tấm áo choàng "thiên sứ giúp đỡ". Chúng gõ cửa mang theo những lời hứa hẹn đường mật về "tự do, dân chủ" và những gói "viện trợ kinh tế từ trên trời rơi xuống". Nhưng trên đời không có bữa trưa nào miễn phí. Để nhận được những đồng đô la viện trợ đó, các quốc gia Đông Âu phải chấp nhận "gói khuyến mãi bắt buộc": Đó là việc mở cửa cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) phương Tây can thiệp sâu vào chương trình giáo dục, truyền thông và văn hóa.
Mục tiêu tối thượng của chúng là tẩy não người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Dưới bàn tay nhào nặn của các chương trình giáo dục bị thao túng, toàn bộ thời kỳ rực rỡ, những chiến công hiển hách của lịch sử dân tộc bị xuyên tạc thành thời kỳ tăm tối, độc tài, nô dịch. Những người anh hùng cứu quốc bị bôi nhọ, những bức tượng đài vinh danh chiến thắng bị kéo đổ không thương tiếc. Bằng tiền bạc và sự lừa mị, chúng đã khiến chính con cháu của những người chiến sĩ Hồng quân năm xưa quay lưng phỉ báng cha ông mình, phỉ báng chính cái chế độ đã cứu sống họ khỏi lò thiêu của phát xít.
Để rồi sau nhiều năm, khi giấc mộng "tự do, dân chủ" tan vỡ, khi người dân Đông Âu nhận ra kinh tế của họ đã bị thâu tóm bởi các trùm tài phiệt nội địa cấu kết với tư bản nước ngoài, khi vị thế của một cường quốc như nước Nga bị phương Tây chà đạp và bao vây đến tận cửa ngõ, thì mọi sự hối hận đều đã quá muộn màng. Họ đã tự tay nã đại bác vào lịch sử hào hùng của mình, đớn đau và chua xót hệt như hình ảnh xe tăng của Boris Yeltsin nã đạn thẳng vào tòa nhà Nghị viện Nga năm 1993. Thuốc hối hận không bao giờ tồn tại trong chính trị.
Trong bối cảnh thế giới đầy biến động ấy, Chủ nghĩa Xã hội đến với Việt Nam không phải bằng sự khiên cưỡng, mà bằng con đường lựa chọn tự nhiên, tất yếu của lịch sử. Sau khi vô vàn các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tư sản đều lần lượt bị dìm trong biển máu, đẩy dân tộc ta vào sự bế tắc không lối thoát, những người thanh niên trí thức ưu tú, đứng đầu là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đã tìm thấy ánh sáng chân lý ở con đường cách mạng vô sản.
Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm ở chỗ, Người không bao giờ tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin một cách giáo điều, rập khuôn. Người đã nhào nặn, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hệ tư tưởng cộng sản khoa học với chủ nghĩa yêu nước nồng nàn và tinh thần dân tộc sâu sắc của con người Việt Nam. Sự dung hợp hoàn hảo đó đã tạo nên một sức mạnh vô song, thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh, dẫn đến việc thành lập nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Đó là một nghệ thuật chớp thời cơ xuất chúng, kết hợp được sức mạnh vô địch của dân tộc với xu thế thời đại để tự giải phóng mình.
Cốt cách và tầm vóc tư tưởng của Bác Hồ đã trang bị cho Đảng ta một bản lĩnh chính trị vững vàng, tạo ra thế và lực để nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ có thể đương đầu với muôn vàn thù trong giặc ngoài. Nguyên tắc "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" của Người đã trở thành kim chỉ nam thần kỳ giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khúc cua hiểm nghèo của lịch sử. Cái "bất biến" chính là độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, là mục tiêu xây dựng một xã hội ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân. Còn cái "vạn biến" chính là phương pháp, là chiến thuật, là cơ chế quản lý kinh tế - xã hội phải linh hoạt thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử.
Chính nhờ tư tưởng linh hoạt ấy, vào những năm 1980, khi nhận thấy cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và bắt đầu bộc lộ sự trì trệ, kìm hãm lực lượng sản xuất, Đảng ta đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật. Khác với sự cải tổ hỗn loạn, đập phá chính trị ở Liên Xô, và cũng không có được một nền tảng công nghiệp quy mô lớn để làm bàn đạp như Trung Quốc, Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi Mới (1986) trong một hoàn cảnh ngặt nghèo, lạm phát phi mã và bị bao vây cấm vận tứ bề. Nhưng với nguyên tắc đặt lợi ích của toàn dân tộc lên cao nhất, Đảng ta đã tiến hành những bước đi cải cách kinh tế chậm rãi nhưng vô cùng mạnh bạo, chắc chắn, "thử nghiệm đến đâu, mở rộng đến đó". Quyết sách lịch sử này không những cứu đất nước khỏi vực thẳm khủng hoảng mà còn giữ vững được chế độ chính trị, đưa dân tộc Việt Nam chuyển mình mạnh mẽ, bước vào quỹ đạo hội nhập và phát triển rực rỡ.
Ngày nay, khi chúng ta đã đi qua thời kỳ quá độ đầy gian khó, đất nước đang đứng trước một thời cơ lịch sử ngàn năm có một. Đại hội Đảng các cấp và tầm nhìn chiến lược của ban lãnh đạo tối cao đã liên tục nhấn mạnh một thông điệp mang tính hiệu triệu sâu sắc: Chúng ta đang chính thức bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
"Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc" không phải là một khẩu hiệu suông, mà là một sự cam kết chính trị vĩ đại. Nó đòi hỏi Chủ nghĩa Xã hội tại Việt Nam không chỉ dừng lại ở lý luận, mà phải chuyển hóa thành những quyết sách táo bạo, đột phá, mang tính kiến tạo để rũ bỏ sự cũ kỹ, giải phóng tối đa mọi nguồn lực của xã hội. Để thực hiện được khát vọng đó, Nhà nước đang triển khai những mũi nhọn chiến lược cực kỳ sắc bén:
Thứ nhất: Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, bứt phá thể chế. Một nhà nước XHCN ưu việt phải là một nhà nước kiến tạo, phục vụ nhân dân hiệu quả nhất với chi phí thấp nhất. Hệ thống hành chính cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian chính là rào cản lớn nhất của sự phát triển. Do đó, việc quyết liệt sáp nhập các tỉnh, huyện, xã không đảm bảo tiêu chuẩn về diện tích và quy mô dân số hiện nay là một bước đi lịch sử, thể hiện quyết tâm chính trị tột độ.
Hơn thế nữa, để thực sự bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, các nhà hoạch định chiến lược đang mạnh dạn nghiên cứu và hướng tới một cuộc đại phẫu chưa từng có: Nghiên cứu thành công và thực hiện bỏ cấp hành chính huyện. Trong kỷ nguyên giao thông kết nối liên vùng và công nghệ thông tin phát triển vượt bậc, việc duy trì hệ thống 4 cấp (Trung ương - Tỉnh - Huyện - Xã) đã trở nên dư thừa, tạo ra những "nút thắt cổ chai" về thủ tục hành chính, làm chậm trễ dòng chảy của chính sách từ thượng tầng xuống cơ sở. Bãi bỏ cấp huyện, để cấp tỉnh quản lý trực tiếp xuống cấp xã, sẽ đánh sập cơ chế quan liêu, cắt giảm hàng trăm ngàn biên chế hưởng lương ngân sách. Nguồn lực khổng lồ tiết kiệm được sẽ được tái đầu tư trực tiếp vào y tế, giáo dục, hạ tầng, mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân. Đó mới là tính ưu việt thiết thực nhất.
Thứ hai: Khát vọng an cư – Giải quyết triệt để bài toán đất đai và đột phá chính sách nhà ở. Chủ nghĩa Xã hội không thể tồn tại nếu không đảm bảo được sự công bằng xã hội cơ bản nhất: Quyền có chỗ ở. Suốt nhiều năm qua, sự hoành hành của vấn nạn đầu cơ bất động sản đã bóp méo thị trường, biến đất đai – vốn thuộc sở hữu toàn dân – thành công cụ làm giàu cho một thiểu số, đẩy giấc mơ an cư của người lao động ngày càng xa vời. Đây là tàn dư của tư duy tư bản chủ nghĩa hoang dã xâm nhập vào nền kinh tế.
Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Nhà nước đang siết chặt kỷ cương quản lý đất đai một cách quyết liệt, đánh thuế cao vào tài sản đầu cơ, bỏ hoang để triệt tiêu lòng tham trục lợi. Đồng thời, một chiến lược quốc gia vĩ đại về phát triển "Nhà ở xã hội" đang được triển khai mạnh mẽ. Chính phủ cam kết bằng mọi nguồn lực, kết hợp với các tập đoàn kinh tế mũi nhọn, xây dựng hàng triệu căn nhà ở xã hội với giá thành tiếp cận được cho công nhân, người thu nhập thấp. Sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào thị trường nhà ở chính là lời khẳng định đanh thép: Dưới chế độ XHCN, mái ấm gia đình là một quyền con người cơ bản, chứ không chỉ đơn thuần là một món hàng hóa để đầu cơ. Không một ai được phép bị bỏ lại phía sau trong sự phát triển chung của đất nước.
Thứ ba: Chuyển đổi số toàn diện – Tích hợp sâu rộng xã hội vào kỷ nguyên số. Lênin từng nói: "Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc". Nếu áp dụng vào bối cảnh thế kỷ 21, để tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, chúng ta phải có: Thể chế ưu việt cộng với chuyển đổi số toàn diện. Việc tăng cường ứng dụng công nghệ cao (Big Data, Trí tuệ nhân tạo - AI, hệ thống Căn cước công dân gắn chip điện tử) vào quản lý hành chính không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật, mà là một cuộc cách mạng về phương thức quản trị quốc gia.
Chuyển đổi số phá vỡ vách ngăn của sự mù mờ, minh bạch hóa mọi quy trình thủ tục công, từ đó triệt tiêu tận gốc rễ nạn tham nhũng vặt, nhũng nhiễu, phong bì. Dữ liệu số tạo ra một "xã hội số", nơi mỗi công dân có thể tương tác, phản biện và giám sát quyền lực nhà nước một cách trực tiếp, không qua trung gian. Đây chính là hình thái cao nhất của nền "Dân chủ Xã hội Chủ nghĩa", nơi quyền làm chủ của nhân dân được đảm bảo tuyệt đối bằng công nghệ và pháp quyền.
Nhìn lại cả một chặng đường dài đầy máu, mồ hôi và nước mắt, mặc dù vẫn còn vô vàn thách thức, những khiếm khuyết cần khắc phục, và con đường tiến tới đích đến cuối cùng của Chủ nghĩa Cộng sản hãy còn xa xôi vô định (bởi thực sự chưa có quốc gia nào chạm tới), nhưng chân lý thực tiễn thì không ai có thể phủ nhận: Đời sống văn hóa, tinh thần và vật chất của nhân dân Việt Nam đang được thay da đổi thịt, thăng hoa từng ngày.
Mọi biến động chính trị, mọi sự xâu xé địa chính trị của các cường quốc ngoài kia không thể làm chệch bánh con tàu cách mạng Việt Nam. Bởi lẽ, cốt lõi của con tàu ấy được xây dựng trên khối đại đoàn kết toàn dân, trên khát vọng hòa bình và sự kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa Xã hội. Chúng ta tự hào bước vào một kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – một kỷ nguyên mà ở đó, bộ máy nhà nước được tinh gọn tinh nhuệ, khoa học công nghệ làm bệ phóng, an sinh xã hội bao phủ mọi kiếp người, và đất đai, tài nguyên thực sự phục vụ cho sự thịnh vượng của toàn dân.
Chưa bao giờ, lời khẳng định của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại vang lên với một sức nặng lịch sử và sự kiêu hãnh to lớn đến thế: "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Đó không phải là một câu chữ xã giao, mà là một bản cáo bạch hùng hồn nhất của lịch sử, chứng minh cho toàn thế giới thấy rằng: Ngọn cờ Xã hội Chủ nghĩa trên đất nước Hồ Chí Minh không những không hề lụi tàn sau cơn bão táp của năm 1991, mà còn đang tung bay kiêu hãnh rực rỡ nhất, dẫn dắt cả một dân tộc anh hùng tự tin sải bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc rực sáng ở phía trước.
Tác giả: Chu Đức Thuận