Có một sự nhầm lẫn vô cùng tai hại, hoặc đúng hơn là một sự tự huyễn hoặc đầy ngây thơ trong quan hệ quốc tế hiện đại: Đó là sự đánh tráo khái niệm giữa "Đồng minh" (Allies) và "Chư hầu" (Vassals). Trên các mặt báo phương Tây, người ta rêu rao về những khối liên minh dân chủ, những đối tác chiến lược bền chặt. Nhưng bóc tách lớp vỏ bọc ngôn từ mỹ miều ấy ra, bản chất lõi của các mối quan hệ này phơi bày một hiện thực phũ phàng: Ngoại giao đồng minh là quan hệ "bạn bè song phẳng", còn ngoại giao chư hầu, xét cho cùng, chỉ là mối quan hệ "chủ - tớ" được mặc vest và thắt cà vạt.
Đối với mối quan hệ Đồng minh đích thực: Đây là một cuộc chơi "Win - Win" (đôi bên cùng có lợi) dựa trên nguyên tắc tự nguyện và tôn trọng không gian sinh tồn của nhau. Giống như một đôi bạn cùng tiến, khi gặp thời, hai bên cùng chia sẻ lợi ích; lúc hoạn nạn, rủi ro được san sẻ trong giới hạn nguồn lực mà không đi kèm những điều khoản tống tiền. Khi một bên yếu thế, bên kia có thể hỗ trợ, kèm cặp. Cốt lõi của "đồng minh" là sự độc lập về chủ quyền chiến lược: Không ai có quyền áp đặt toàn diện lên ai, mọi sự hợp tác đều dựa trên sự giao thoa về lợi ích cốt lõi.
Đối với mối quan hệ Chư hầu: Bề ngoài, nó được trang trí giống hệt đồng minh, nhưng "vòng kim cô" lại được siết chặt ở hậu trường. Khi chư hầu gặp rủi ro, "ông chủ" sẽ chỉ cứu nếu điều đó phục vụ lợi ích của bá quyền. Còn trong thời bình? Thằng chủ sẽ bòn rút, vắt kiệt sinh lực và không bao giờ cho phép chư hầu vượt mặt mình ở bất kỳ lĩnh vực nào. Đã mang thân phận chư hầu, dù bạn có giàu có hay phát triển đến đâu, bạn vẫn luôn bị nắm đằng chuôi (quân sự, tài chính, hoặc tài nguyên). Ngóc đầu lên chuẩn bị tranh ngôi số 1? Ngay lập tức sẽ bị "nước mẹ" đập cho quay về thời kỳ đồ đá hoặc đình trệ vĩnh viễn.
Để thấy rõ bức tranh rạch ròi này, hãy nhìn vào ba ví dụ kinh điển trong lịch sử địa chính trị cận - hiện đại.
Nhìn lại lịch sử chiến tranh Lạnh, quan hệ Liên Xô - Việt Nam là một minh chứng sống động cho thế trận đồng minh đôi bên cùng có lợi.
Về phía Việt Nam, chúng ta nhận được viện trợ khổng lồ từ vũ khí, khí tài, tài chính cho đến chuyên gia từ Moscow để hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước và bảo vệ biên giới. Đổi lại, Liên Xô nhận được gì? Họ có một đồng minh chiến lược, một lá phiếu ủng hộ uy tín trên trường quốc tế và quan trọng nhất là quyền tiếp cận quân cảng Cam Ranh – một vị trí yết hầu giúp Hải quân Xô Viết vươn vòi ra toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Điều làm nên bản chất "đồng minh" ở đây là sự tôn trọng tính tự quyết. Dù viện trợ hàng tỷ USD, Moscow chưa bao giờ (và cũng không thể) can thiệp vào đường lối chiến thuật hay các quyết định chiến lược trên chiến trường của Hà Nội. Liên Xô không ép Việt Nam phải thay đổi cơ cấu văn hóa hay dâng hiến chủ quyền kinh tế để đổi lấy vũ khí.
Giả sử, nếu công cuộc cải tổ của Gorbachev không biến thành một thảm họa địa chính trị và Liên Xô còn tồn tại đến ngày nay, mối quan hệ này vẫn sẽ vận hành theo trục bạn bè. Khi Việt Nam mạnh lên, Liên Xô cũng không có cớ gì để dùng sức ép quân sự tống tiền Hà Nội, bởi đường lối của hai bên phát triển song song và không triệt tiêu lợi ích của nhau. Nga hiện tại hay Liên Xô trước đây, chưa bao giờ ra điều kiện ép Việt Nam phải làm chư hầu để được chơi cùng.
Học thuyết "Vận mệnh hiển nhiên" (Manifest Destiny) đã cấy vào DNA của giới tinh hoa Hoa Kỳ một tư duy mặc định: Nước Mỹ sinh ra để lãnh đạo phần còn lại của thế giới. Để duy trì ngai vàng độc tôn (Hegemony), Mỹ tạo ra một hệ thống được tô vẽ là "Liên minh thế giới tự do", nhưng thực chất là một chuỗi cung ứng chư hầu. Nguyên tắc tối thượng của Mỹ: Bất kỳ quốc gia nào manh nha đe dọa vị trí số 1 của Mỹ – bất kể là kẻ thù hay "đồng minh thân thiết" – đều sẽ bị nhổ cỏ tận gốc.
Trường hợp Nhật Bản: Bài học vỡ lòng của một chư hầu kinh tế Từ đống tro tàn của Thế chiến II, dưới "chiếc ô an ninh" của Mỹ, Nhật Bản trỗi dậy thành một con rồng kinh tế. Đến cuối thập niên 1980, kinh tế Nhật vươn lên vị trí số 2 thế giới. Giới tư bản Nhật đem USD sang mua lại cả trung tâm Rockefeller ở New York, hàng hóa Nhật đè bẹp hàng hóa Mỹ ngay trên đất Mỹ. Nước Mỹ ngửi thấy mùi nguy hiểm.
Lập tức, mặt nạ "đồng minh" được lột bỏ. Với việc quân đội Mỹ đang đóng quân chằng chịt trên quần đảo Nhật Bản, Tokyo không có quyền phản kháng chính trị. Mỹ ép Nhật Bản (cùng các nước châu Âu) ký Hiệp ước Plaza năm 1985, buộc đồng Yên Nhật phải tăng giá phi mã. Hậu quả? Hàng hóa Nhật mất sạch sức cạnh tranh xuất khẩu. Kèm theo đó là đòn roi thuế quan bóp nghẹt các tập đoàn công nghệ Nhật. Chư hầu ngoan ngoãn tự phế võ công, bong bóng kinh tế vỡ vụn, đẩy Nhật Bản vào "những thập kỷ mất mát" kéo dài tới tận hôm nay. Kinh tế Nhật mãi lẹt đẹt ở phía sau và vĩnh viễn không bao giờ dám mơ đến việc đoạt ngôi vương của nước Mỹ thêm một lần nào nữa.
Trường hợp Liên minh châu Âu (EU): Sự tự sát địa chính trị của một bầy đàn Châu Âu luôn tự hào mình là đồng minh ngang hàng của Mỹ, nhưng thực tế, họ chỉ là "túi máu" dự phòng của Washington.
Hãy nhìn vào logic kinh tế thuần túy trước năm 2022: Sự kết hợp giữa Nga và châu Âu là một cặp bài trùng hoàn hảo. Nga có năng lượng, tài nguyên giá rẻ; EU có công nghệ, vốn và nền tảng công nghiệp tinh vi. Sự kết hợp này mang lại thịnh vượng cho châu Âu và khiến đồng Euro đủ sức đe dọa vị thế bá quyền của đồng USD. Thậm chí, một số quốc gia Trung Đông đã bắt đầu rục rịch thanh toán dầu mỏ bằng Euro.
Đó là một viễn cảnh mà nước Mỹ coi là thảm họa. Mỹ phải ra tay chia rẽ. Mượn cớ sự mở rộng của NATO và biến Ukraine thành mồi lửa, Mỹ đã phác họa thành công bức tranh "Gấu Nga khát máu" để dọa các chính trị gia châu Âu. Và khi xung đột Nga - Ukraine nổ ra, đàn chư hầu châu Âu răm rắp nghe lời chủ: tự tay cắt đứt huyết mạch năng lượng giá rẻ từ Nga.
Kết quả của lòng trung thành này là gì? EU hứng chịu bão lạm phát, giải công nghiệp hóa trầm trọng (deindustrialization) khi các nhà máy phải đóng cửa vì thiếu điện, hoặc phải bỏ trốn sang... Mỹ. Trong khi đó, các tổ hợp công nghiệp quân sự Mỹ kiếm bộn tiền nhờ bán vũ khí cho EU, còn các tập đoàn năng lượng Mỹ thì vớ bẫm khi bán khí hóa lỏng (LNG) cho châu Âu với giá đắt gấp 4 - 5 lần giá Nga.
Thằng chủ Mỹ đang "hút máu" chư hầu châu Âu một cách công khai, tinh vi và tàn nhẫn nhất. Chủ thì lợi đơn lợi kép: vừa triệt hạ được đối thủ (Nga), vừa làm suy yếu sự cạnh tranh của đồng minh (EU), lại vừa bán được hàng giá cắt cổ. Còn bọn tớ thì gồng mình chịu trận, kinh tế suy thoái nhưng chính trị gia vẫn phải ra rả hát bài ca "Bảo vệ các giá trị dân chủ".
Trong quan hệ quốc tế, chân lý của Lord Palmerston luôn đúng: "Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn".
Sự khác biệt giữa Đồng minh và Chư hầu đã rõ như ban ngày. Câu hỏi nhức nhối đặt ra là: Tại sao những quốc gia châu Âu hay Nhật Bản, Hàn Quốc – tinh hoa là thế, giàu có là thế – lại không thể dứt bỏ kiếp chư hầu để tự đứng trên đôi chân của mình?
Câu trả lời nằm ở "sợi dây thòng lọng" mà nước Mỹ đã cẩn thận tròng vào cổ họ từ nhiều thập kỷ trước: Đó là sự phụ thuộc hoàn toàn vào chiếc ô an ninh quân sự (NATO, các căn cứ quân sự Mỹ đồn trú); là sự kẹp chặt của hệ thống tài chính bằng đồng Đô-la; và tinh vi hơn cả, là việc Mỹ đã kiểm soát được hệ thống truyền thông và tư tưởng của giới tinh hoa cầm quyền tại các nước này. Chỉ cần một lãnh đạo chư hầu nào có ý định tự chủ, không cần Mỹ phải cất quân đánh, chính các cuộc bạo loạn nội bộ, áp lực truyền thông và sự trừng phạt kinh tế sẽ kéo kẻ đó xuống bùn đen.
Thế mới thấy, làm kẻ thù của một đế quốc đã khổ, nhưng làm chư hầu dâng đầu cho nó gõ, nuôi nó béo tốt để rồi nó cắt lại miếng thịt của chính mình, mới thực sự là một bi kịch của lịch sử.
Tác giả: Chu Đức Thuận