Hồ Chí Minh, một nhân vật kiệt xuất
Hồ Chí Minh, một nhân vật kiệt xuất
Bác Hồ là một người con
Của một dân tộc vẫn còn kiếp nô
Trên vai người gánh nỗi lo
Nhân dân khát vọng tự do đang chờ
Ước mơ giành lại cơ đồ
Cho nhân dân thoát kiếp nô lệ này
Giành lại độc lập về tay
Bôn ba cứu nước mong ngày thành công
Việt Nam giành lại non sông
Nhân dân nô lệ phá gông theo người
Giữ vững tấc đất, biển trời
Ơn Bác, ơn Đảng đời đời dân ghi
Đuổi pháp, đuổi Mĩ xá gì
Xây dựng kiến thiết theo bì năm Châu
Nước ta giờ có kém đâu
Cờ sao vàng vẫn một màu đỏ tươi
Tình Bác trải khắp muôn nơi
Yêu non yêu nước yêu người Việt Nam
Tình Bác trải khắp Bắc Nam
Bao La nồng ấm như ngàn cái hôn
Con người đẹp nhất tâm hồn
Việt Nam đẹp nhất người Hồ Chí Minh.
Lịch Sử Gọi Tên: Tầm Vóc Một Con Người Giữa Biến Thiên Thời Cuộc
Nhìn lại dặm dài lịch sử nước nhà trong những năm tháng chìm dưới ách đô hộ, bức tranh toàn cảnh của dân tộc là một gam màu tối sẫm của thân phận nhược tiểu. Sự đè nén của chế độ thực dân kết hợp cùng sự rệu rã của hệ thống phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào cảnh lầm than tột cùng. Từ những sinh linh bé nhỏ chưa kịp chào đời đến những bậc lão nông chi điền đã cạn kiệt sinh lực, tất cả đều chung một nỗi tủi nhục mất nước. Sự phẫn uất đã hóa thành những ngọn lửa khởi nghĩa liên miên, nhưng rồi đều bi tráng lụi tàn trong sự đàn áp khốc liệt. Tội ác của kẻ thống trị càng chồng chất, nỗi oan khiên và ý chí phản kháng của nhân dân càng dâng cao. Giữa bối cảnh bế tắc và mịt mờ phương hướng ấy, sự xuất hiện của một con người – sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, mang trong mình những trăn trở của thời đại – đã trở thành một cột mốc xoay chuyển vận mệnh dân tộc. Người là Hồ Chí Minh, linh hồn của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, người đặt nền móng và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, nơi quy tụ những trí tuệ và khí phách kiên trung nhất của đất nước thời bấy giờ.
Thế kỷ XX đi qua như một cơn lốc vũ bão của lịch sử nhân loại, là sự đan xen phức tạp của những xung đột ý thức hệ, những mâu thuẫn giai cấp gay gắt, hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc và sự vươn mình của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn cầu. Đứng giữa vòng xoáy biến thiên khôn lường về chính trị, kinh tế và ngoại giao ấy, Người đã định hình cho cách mạng Việt Nam một triết lý hành động sắc bén: "Dĩ bất biến – Ứng vạn biến". Lấy cái mỏ neo kiên định là nền độc lập dân tộc để linh hoạt ứng phó với muôn vàn sự thay đổi của thời cuộc.
Hiểu thấu nỗi đau của một dân tộc bị tước đoạt quyền tự quyết, Người không đi tìm một giáo lý viển vông, mà tìm kiếm một công cụ giải phóng thực tiễn. Năm 1920 đánh dấu bước ngoặt khi Người tìm thấy con đường cứu nước phù hợp nhất với căn tính và hoàn cảnh của Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản, nơi độc lập dân tộc không thể tách rời với sự bình đẳng và tự do thực sự của chủ nghĩa xã hội. Đó không phải là một sự lựa chọn cảm tính, mà là kết quả của một quá trình khảo nghiệm thực tiễn cam go. Mười năm sau (1930), Người đứng ra hợp nhất các tổ chức, khai sinh Đảng Cộng sản Việt Nam – tổ chức tiên phong mang trọng trách dẫn dắt cả dân tộc. Để rồi, sau 15 năm nếm mật nằm gai, kiên trì xây dựng thực lực từ chính trị, quân sự đến căn cứ địa lòng dân, thế và lực đã hội tụ trọn vẹn, làm nên cốt cách của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Bản Tuyên ngôn Độc lập vang lên, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, minh chứng cho một thành quả cách mạng được đánh đổi bằng máu, nước mắt và trí tuệ của bao thế hệ.
Nhìn nhận một cách khách quan dưới góc độ nghị luận lịch sử, điểm vĩ đại và khác biệt nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh so với nhiều nhà lãnh đạo cùng thời chính là sự tư duy độc lập và tư tưởng nhân văn sâu sắc. Người là một trí thức cộng sản nhưng không bao giờ bị trói buộc bởi những giáo điều cứng nhắc. Ở Người, ta không thấy sự cực đoan của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cũng không có sự rập khuôn trong đấu tranh giai cấp một cách máy móc. Xuyên suốt cuộc đời hoạt động, chân lý tối thượng mà Người theo đuổi và kiến tạo là sức mạnh của "Đại đoàn kết toàn dân tộc". Mọi tầng lớp, mọi cá nhân, miễn là mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và tinh thần yêu nước, đều được Người trân trọng và quy tụ vì mục tiêu duy nhất: "Độc lập – Tự do – Hạnh phúc".
Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh không được xây dựng trên nền tảng của sự thần thánh hóa hay những chiến dịch truyền thông đánh bóng tên tuổi. Xuyên suốt cuộc đời, Người khước từ mọi đặc quyền, đặc lợi và cự tuyệt tư duy sùng bái cá nhân. Tầm ảnh hưởng của Người đến từ sự nhất quán giữa lời nói và việc làm (ngôn hành hợp nhất), từ một nếp sống dung dị, thanh bạch đến mức thuần khiết. Chính sức mạnh nội tại ấy đã tự nhiên lan tỏa, trở thành nguồn cảm hứng đạo đức sâu sắc cho bao thế hệ người Việt. Những triết lý Người để lại không hề cao xa, mà mộc mạc, bền vững như quy luật của đất trời:
"Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.
Thiếu một mùa, thì không thành trời.
Thiếu một phương, thì không thành đất
Thiếu một đức, thì không thành người".
Bài học về "Cần, Kiệm, Liêm, Chính" chính là sự chắt lọc tinh hoa của đạo đức phương Đông, được Người thổi vào đó tinh thần của thời đại mới. Đó là thước đo phẩm giá của con người, là nền tảng vững chắc để xây dựng một bộ máy kiến tạo quốc gia trong sạch và vững mạnh.
Nếu hoàn cảnh lịch sử luôn đặt ra những bài toán hóc búa, thì lịch sử cũng tự chắt lọc và sản sinh ra những cá nhân kiệt xuất để tìm ra lời giải. Thế kỷ XX đã đặt ra cho Việt Nam một bài toán sinh tử, và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là câu trả lời trọn vẹn, thuyết phục nhất mà lịch sử đã lựa chọn. Tư tưởng, đạo đức và phương pháp luận của Người không phải là những bảo tàng vĩnh cửu chỉ để chiêm bái, mà là một kho tàng tri thức sống động. Sang thế kỷ XXI, giữa một thế giới đầy rẫy biến động mới, những nền tảng giá trị ấy chắc chắn sẽ tiếp tục được các thế hệ người Việt nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và thực tế, để đưa con thuyền quốc gia vươn tới bến bờ "Công bằng, dân chủ, văn minh", sánh vai một cách đầy tự hào cùng bè bạn năm châu.
Tác giả: Chu Đức Thuận