HÀO QUANG MẠ VÀNG CỦA BOM NGUYÊN TỬ VÀ SỰ THẬT MẤT LÒNG VỀ SỰ CÁO CHUNG CỦA ĐẾ QUỐC NHẬT
Suốt hơn nửa thế kỷ qua, giới chép sử phương Tây và cỗ máy truyền thông khổng lồ của Hollywood đã nhào nặn ra một kịch bản kết thúc Thế chiến II không thể hoàn hảo và mang đậm tính "cứu rỗi" hơn: Nước Mỹ hùng cường, với hai quả bom nguyên tử sáng lòa như cơn thịnh nộ của Chúa trời giáng xuống Hiroshima và Nagasaki, đã đánh thức lương tri của những kẻ cuồng tín quân phiệt Nhật Bản, buộc chúng phải quỳ gối quy hàng để cứu nhân loại khỏi cảnh lầm than.
Một câu chuyện thật cảm động, gọn gàng và đậm chất điện ảnh. Chỉ có điều, khi bóc tách lớp sơn hào nhoáng của thứ "lịch sử biên đạo" ấy, những sự thật trần trụi của địa chính trị lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác: Giới tinh hoa quân phiệt Nhật không hề đầu hàng vì xót xa trước sức hủy diệt khủng khiếp của vũ khí hạt nhân. Cái khiến họ thực sự toát mồ hôi lạnh và cuống cuồng giương cờ trắng, mỉa mai thay, lại là tiếng gầm rú từ những đoàn xe tăng của Hồng quân Liên Xô xé toạc phòng tuyến Mãn Châu.
Để hiểu được nỗi kinh hoàng thực sự của Tokyo, chúng ta phải nhìn lên bản đồ thay vì nhìn lên bầu trời. Mãn Châu không chỉ là một vùng đất hoang vu xa xôi, mà là bầu sữa mẹ của cỗ máy chiến tranh Nhật Bản, là niềm kiêu hãnh của Đạo quân Quan Đông – lực lượng được xưng tụng là "bách chiến bách thắng", "niềm tự hào vô song" của Thiên hoàng. Mất Mãn Châu, Đế quốc Nhật Bản chẳng khác nào một gã võ sĩ đạo bị tước kiếm, chặt đứt gân kheo và bỏ đói.
Tại Hội nghị Yalta, Stalin – một nhà cái lão luyện trên bàn cờ địa chính trị – không bao giờ gật đầu tham chiến ở Viễn Đông chỉ vì lòng hào hiệp. Đổi lại việc hất cẳng Nhật Bản, Liên Xô đòi quyền thu hồi Nam đảo Sakhalin, quần đảo Kuril và quyền kiểm soát các tuyến đường huyết mạch ở Đông Bắc Á. Mỹ và Anh vội vã đồng ý, bởi họ hiểu cái giá phải trả bằng máu lính Mỹ nếu phải tự mình đổ bộ lên các hòn đảo chính quốc Nhật Bản sẽ đắt đỏ đến mức nào.
Thế là, trong khi người Mỹ bận rộn thử nghiệm món đồ chơi hủy diệt mới mang tên vũ khí nguyên tử, Nguyên soái A.M. Vasilievsky của Liên Xô đã âm thầm chuẩn bị cho một trong những chiến dịch bao vây tiêu diệt có quy mô lớn nhất và tốc độ chớp nhoáng nhất lịch sử quân sự hiện đại.
Người dân Nhật quỳ khóc bên ngoài hoàng cung khi nghe lời tuyên bố đầu hàng của Nhật Hoàng Hirohito phát đi ngày 15-8-1945. Ảnh: Japan Times.
Hãy cùng làm một phép toán logic đơn giản dựa trên trục thời gian của những ngày tháng 8 năm 1945 – thứ thường bị những nhà sử học chuộng thuyết "bom nguyên tử kết thúc chiến tranh" cố tình lờ đi:
Ngày 6-8: Mỹ ném quả bom "Little Boy" xuống Hiroshima. Nhật Bản mất đi một thành phố, nhưng giới chóp bu quân phiệt tại Tokyo thì sao? Họ... nhún vai. Lục quân Nhật thậm chí còn chưa thèm nộp báo cáo đánh giá thiệt hại. Với họ, việc một thành phố bốc cháy trong chớp mắt bằng một quả bom hay bị thiêu rụi từ từ bởi hàng ngàn quả bom cháy (như Tokyo đã từng hứng chịu) về cơ bản không thay đổi cục diện chiến lược.
Ngày 8-8: Đại sứ Nhật tại Moscow nhận được tối hậu thư. Liên Xô đơn phương xé bỏ Hiệp ước Trung lập Xô-Nhật.
Đúng 0 giờ ngày 9-8: 1,5 triệu Hồng quân Liên Xô tràn qua biên giới, đánh thẳng vào Mãn Châu từ bốn hướng.
5 giờ 30 phút sáng ngày 9-8: Tin tức báo về Tokyo. Đối với Nội các Nhật Bản, đây mới thực sự là tiếng sấm rền đánh sập hy vọng cuối cùng. Không phải là quả bom ở Hiroshima, mà là việc Liên Xô tham chiến đã gây ra một cơn địa chấn tâm lý tột độ.
10 giờ 30 phút sáng ngày 9-8: Hội đồng Chiến tranh Tối cao Nhật Bản lập tức họp khẩn. Thủ tướng Kantaro Suzuki thốt lên một câu để đời: "Việc Liên Xô tham chiến vào rạng sáng hôm nay đã đưa chúng ta vào một tình thế hoàn toàn không có lối thoát". Tuyệt nhiên, không ai lấy quả bom ở Hiroshima ra làm lý do chính để xin hàng.
Gần trưa ngày 9-8: Quả bom thứ hai rơi xuống Nagasaki, ngay trong lúc Hội đồng tối cao đang cãi nhau chí chóe về việc phải đầu hàng với điều kiện nào để giữ ghế cho Thiên hoàng.
Như học giả Ward Wilson đã bình luận đầy mỉa mai trong tác phẩm "Five Myths About Nuclear Weapons": Bom nguyên tử không hề bẻ gãy ý chí của Nhật Bản. Quyết định đầu hàng đã được manh nha đưa ra từ trước khi giới lãnh đạo Nhật Bản kịp nhận ra sức mạnh thực sự của vũ khí hạt nhân. Quả bom ở Hiroshima chỉ là một tiếng nổ lớn, nhưng chiến dịch Mãn Châu mới là nhát chém đứt yết hầu cỗ máy chiến tranh của Đế quốc.
Nói về Đạo quân Quan Đông, người Nhật từng tự hào tuyên bố đây là tấm khiên thép không thể xuyên thủng. Thế nhưng, tấm khiên ấy đã vỡ vụn trước đòn tấn công như vũ bão của Hồng quân Liên Xô chỉ trong vòng vỏn vẹn một tuần lễ.
Kế hoạch của Bộ Tổng Tham mưu Xô Viết không chỉ là đánh bại, mà là nghiền nát đối phương. Triển khai lực lượng thọc sâu tới 800 km vào lãnh thổ địch trong thời gian ngắn kỷ lục, Hồng quân đã biến 1 triệu binh sĩ "tinh nhuệ" của Nhật Bản thành một đám tàn quân mất phương hướng. Toàn bộ Mãn Châu và Bắc Triều Tiên được giải phóng.
Chua xót hơn cho phe Đồng minh Phương Tây, trong chiến dịch đánh trận cuối cùng này, chính Hồng quân Liên Xô mới là những người phá cửa các trại tập trung ở Mãn Châu và Bắc Triều Tiên, giải cứu hàng ngàn tù binh Mỹ, Anh, Hà Lan – trong đó có tới 29 vị tướng lãnh (bao gồm cả Thiếu tướng Writer, chỉ huy lực lượng Mỹ tại Philippines). Một sự thật lịch sử mà có lẽ Hollywood sẽ chẳng bao giờ muốn dựng thành phim: Sự cứu rỗi binh sĩ Mỹ lại đến từ mũi tiến công của quân đội Xô Viết.
Vậy tại sao luận điệu "bom nguyên tử kết thúc chiến tranh" lại sống dai dẳng đến vậy? Đơn giản, bởi nó phục vụ lợi ích của cả kẻ thắng lẫn người thua.
Đối với Nhật Bản: Nếu thừa nhận rằng đế quốc đầu hàng vì quân đội của Thiên hoàng đã bị Hồng quân Liên Xô đánh cho tan tác về mặt chiến lược, đó sẽ là một sự sỉ nhục không thể gột rửa đối với giới tinh hoa quân phiệt. Nhưng nếu tuyên bố rằng Nhật Bản phải cúi đầu trước một "thứ vũ khí có sức mạnh siêu nhiên của khoa học", thì câu chuyện lại mang một màu sắc bi tráng khác hẳn.
Nhà nghiên cứu Tsuyoshi Hasegawa đã chỉ rõ: Sự tham chiến của Liên Xô làm sụp đổ hoàn toàn mộng tưởng dùng Moscow làm trung gian hòa giải của Nhật Bản, đồng thời dấy lên nỗi kinh hoàng về việc chủ nghĩa cộng sản sẽ tràn vào quốc đảo và phế truất Thiên hoàng. Đối với phe bảo hoàng, bảo vệ "Quốc thể" (quyền lực của Hoàng gia) là ưu tiên số một. Chịu thua người Mỹ với lý do "bảo vệ nhân loại khỏi sự diệt vong của bom nguyên tử" là một nước cờ PR vô tiền khoáng hậu của Thiên hoàng Hirohito, một cái cớ hoàn hảo để bao biện cho sự thất bại về mặt quân sự, biến kẻ đi xâm lược thành một nạn nhân đầy đức hy sinh.
Đối với Mỹ: Quả bom nguyên tử được thần thánh hóa sẽ củng cố vị thế bá quyền tuyệt đối của Washington sau chiến tranh, biến Mỹ thành đấng cứu thế của tự do và là cái bóng bao trùm lên mọi cuộc đàm phán địa chính trị sau này, đồng thời làm lu mờ vai trò then chốt của Liên Xô tại mặt trận Thái Bình Dương.
Quân đội Liên Xô giải phóng thành phố Hắc Long Giang trong Chiến dịch Mãn Châu.
Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill – một người chưa bao giờ che giấu sự ác cảm với Liên Xô – cũng đã phải thành thật ghi lại trong hồi ký của mình: "Sẽ sai lầm nếu cho rằng số phận của Nhật Bản là do những quả bom nguyên tử quyết định".
Lịch sử luôn được viết bởi những kẻ chiến thắng, nhưng sự thật thì luôn có cách tồn tại độc lập của riêng nó. Hai quả bom nguyên tử có thể đã thiêu rụi hai thành phố và hàng trăm ngàn sinh mạng vô tội, nhưng nó chỉ đóng vai trò như một phông nền bi thảm. Thứ thực sự quật ngã Đế quốc Nhật Bản, bóp nghẹt ý chí kháng cự của giới cầm quyền Tokyo và buộc họ phải chọn cách quỳ gối trước người Mỹ để tránh việc phải đối mặt với một Nhật Bản bị chia cắt bởi quân đội Xô Viết, chính là chiến thắng mang tính hủy diệt của Liên Xô tại chiến dịch Mãn Châu.
Hiểu được điều này không phải để hạ thấp cái giá của chiến tranh, mà để ngừng việc ngụy tín hóa sự tàn bạo của vũ khí hạt nhân và trả lại sự sòng phẳng cho những tính toán chiến lược lạnh lùng đã thực sự định đoạt số phận của thế kỷ 20.
Tác giả: Chu Đức Thuận