Suốt chiều dài bốn ngàn năm ròng rã, lịch sử dân tộc Việt Nam là một cuốn biên niên sử được viết bằng máu, mồ hôi và nước mắt của những cuộc trường chinh giữ nước. Từ thuở giặc Ân nhòm ngó cõi bờ thời Hùng Vương thứ sáu, cho đến những trận chiến bi hùng bảo vệ từng tấc đảo ở bãi đá Gạc Ma năm 1988, kẻ thù phương Bắc luôn là một hòn đá tảng khổng lồ thử thách sức sống của nòi giống Việt. Nhưng chính trong cái lò tôn vinh sự sinh tồn khắc nghiệt ấy, dân tộc ta đã rèn giũa nên một bản sắc văn hóa độc nhất vô nhị, làm bệ phóng vững chắc cho nghệ thuật quân sự và ngoại giao rực rỡ trong thời đại Hồ Chí Minh.
Muốn hiểu sức mạnh của người Việt, trước hết phải hiểu sự khác biệt cốt lõi trong văn hóa. Người phương Bắc mang sang ta những tư tưởng Nho giáo nặng nề, coi đó là chân lý tuyệt đối để trị dân. Họ dạy: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu", định khung con người vào những khuôn mẫu phục tùng tuyệt đối. Nhưng người Việt, với tính độc lập và tư duy bình đẳng bẩm sinh, lập tức uốn nắn lại: "Con hơn cha là nhà có phúc", và "Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn".
Dân tộc tính của người Việt Nam được nhào nặn từ bùn đất quê hương, nổi bật lên ba tố chất vàng ngọc: Yêu lao động, giàu tình thương và trọng lẽ phải. Nếu như ở nhiều nơi trên thế giới, con người sáng tạo để tìm cách... lười biếng hơn, thì người Việt Nam lại coi lao động là phẩm giá. Thấy người khác làm mà mình ngồi chơi là ngứa ngáy chân tay không chịu được. Trong các mối quan hệ xã hội, người Việt không bao giờ mang thói "trọng kẻ mạnh, khinh kẻ yếu", mà luôn đứng về phía lẽ phải. Tinh thần tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách" không phải là khẩu hiệu suông, mà là một cơ chế sinh tồn cố hữu được mã hóa sâu trong gen của dân tộc để cùng nhau chống chọi với thiên tai và địch họa.
Tư duy quân sự Hồ Chí Minh là kết tinh rực rỡ nhất của văn hóa Việt Nam, nhưng được nâng lên một tầm cao thời đại. Khác với những kẻ thù lịch sử như phong kiến phương Bắc, Xiêm hay Chăm – những thế lực có cùng trình độ phát triển kinh tế, xã hội thời bấy giờ – kẻ thù trong thế kỷ 20 của chúng ta là những đế quốc sừng sỏ nhất toàn cầu. Chúng mang đến những cỗ máy chém khổng lồ của nền công nghiệp hiện đại, những binh đoàn tinh nhuệ được trang bị vũ khí tối tân và công nghệ chiến tranh hủy diệt.
Để giải bài toán bất đối xứng khủng khiếp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tìm thấy mảnh ghép hoàn hảo: Chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống và lý tưởng cộng sản đã tạo ra một bước chuyển mình vĩ đại, hình thành nên con người mới xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng ấy đã định hướng cho một đội quân kiểu mới ra đời – Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tôn chỉ của đội quân ấy vô cùng thiêng liêng và bất diệt: Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội và vì sự phát triển phồn vinh của dân tộc.
Bác Hồ không chỉ dịch Binh pháp Tôn Tử, viết về kinh nghiệm du kích của Tàu, Pháp, Nga, hay Phép dạy làm tướng của Khổng Minh, mà Người còn hấp thụ tinh hoa khoa học quân sự Xô-viết và tri thức vũ khí hiện đại. Chính sự hòa quyện đông - tây, kim - cổ này đã khiến giới tinh hoa chính trị và các nhà chiến lược quân sự Lầu Năm Góc sau này phải cay đắng cúi đầu thừa nhận: Sự thất bại của nước Mỹ trước Việt Nam, suy cho cùng, là sự thất bại trước Văn hóa Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
Sự vĩ đại của Bác Hồ nằm ở nghệ thuật dùng người. Việc Người chọn vị giáo sư sử học Võ Nguyên Giáp làm Đại tướng Tướng Tư lệnh không phải là phép thử, mà là sự lựa chọn một bộ óc có cùng hệ tư tưởng giải phóng dân tộc. Ngay từ cái tên ban đầu – Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – đã hàm chứa triết lý sâu xa: Chính trị trọng hơn quân sự, lý luận đi trước, tuyên truyền giác ngộ nhân dân rồi mới dùng vũ lực để giải phóng.
Từ thuở dựng nước, dân ta luôn phải đối mặt với các loại hình chiến tranh "lấy thịt đè người", chiến thuật "biển người" của phương Bắc, và sau này là "bão pháo, mưa bom" của phương Tây. Hoàn cảnh "nước nhỏ, dân ít" đã đúc kết nên nghệ thuật quân sự vô song: Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, dùng đoản binh thắng trường trận. Thời chống Pháp, chống Nhật, quân ta "lấy mỡ nó rán nó", cướp súng giặc để bắn giặc. Đó là lối đánh của "con nhà nghèo" nhưng trí tuệ phong phú: chắt chiu từng viên đạn, bảo vệ từng khẩu pháo như báu vật quốc gia.
Chiến tranh Việt Nam là chiến tranh nhân dân, là chiến lược mang tính toàn thể. Nước lớn phương Bắc thường giữ tư duy "Thiên tử thủ quốc môn" – nghĩa là dốc toàn lực bảo vệ kinh đô, kinh đô thất thủ là mất nước. Nhưng tư duy của Việt Nam lại là "Toàn quốc kháng chiến".
Đối với chúng ta, còn dân là còn nước, còn cơ quan đầu não là còn kháng chiến. Thủ đô có thể tạm dời lên rừng núi. Khi lực lượng còn mỏng yếu, ta phân tán, hòa tan quân đội vào nhân dân để vừa bảo toàn lực lượng, vừa duy trì sản xuất, dựa vào sự che chở của lòng dân mà đánh du kích, tiêu hao sinh lực địch. Khi thời cơ chín muồi, ta tập hợp lực lượng, tung những đòn tổng phản công quy mô lớn bằng các binh đoàn chủ lực. Chúng ta luôn có lợi thế tuyệt đối: Đánh giặc trên sân nhà, bằng lực lượng tại chỗ, bảo vệ cương thổ của chính mình.
Sự đoàn kết là cội nguồn sức mạnh. Lịch sử đã chứng minh, thời Trần Hưng Đạo, nhờ Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục mà giặc Mông - Nguyên mạnh nhất thế giới cũng phải đại bại. Nhưng đến đời Trần Minh Tông, chỉ vì án oan giết Trần Quốc Chẩn mà phá vỡ sự đoàn kết hoàng tộc, dẫn đến cơ đồ nhà Trần lụi bại. Rút ra bài học cốt máu đó, thế hệ lãnh đạo thời đại Hồ Chí Minh đã thể hiện sự đoàn kết kiên cố như một khối kim cương.
Từ những dự báo mang tầm vĩ mô (Bác Hồ cử Nguyễn Lương Bằng về xuôi mua muối tích trữ trước khi Pháp phong tỏa, hay dự báo Mỹ sẽ dùng B-52 đánh Hà Nội), cho đến những quyết định sinh tử trên chiến trường. Điển hình như tại Điện Biên Phủ, Bác trao toàn quyền cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lời dặn: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh." Đứng trước áp lực khổng lồ phải đánh theo kiểu "đánh nhanh thắng nhanh" của cố vấn nước ngoài, Tướng Giáp đã kiên định thay đổi phương châm sang "đánh chắc, tiến chắc". Lời dặn của Bác chính là kim chỉ nam, là điểm tựa vững vàng để người chỉ huy đưa ra quyết định lịch sử, vượt qua sự bảo thủ của ngoại bang. Những chiến công chói lọi từ Việt Bắc - Thu Đông (1947), Điện Biên Phủ (1954) cho đến Tổng tiến công Mậu Thân (1968), Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)... không phải là kỳ tích của riêng một cá nhân nào, mà là đỉnh cao của tinh thần đoàn kết tuyệt đối trong Bộ Chính trị, Ban Lãnh đạo và toàn thể dân tộc Việt Nam.
Người Việt Nam kiên cường, dũng mãnh trên chiến trường, nhưng lại mang trong tim một lòng nhân đạo bao la rợn ngợp. Truyền thống "Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn / Lấy chí nhân để thay cường bạo" của Nguyễn Trãi xưa kia đã trở thành quốc sách.
Lịch sử ghi nhận, sau khi đẩy lùi quân xâm lược Trung Quốc năm 1979, Ban lãnh đạo Việt Nam đã quyết định không truy kích. Khi giặc đã rút, việc giết thêm một hay hai vạn tàn quân không mang lại lợi ích chiến lược nào, mà chỉ khoét sâu thêm hố ngăn cách thù hận giữa hai dân tộc. Tương tự như vậy, sau Đại thắng mùa Xuân 1975, dẫu biết rằng rất nhiều lính Việt Nam Cộng hòa từng mang nợ máu, từng tra tấn tàn bạo những người cộng sản, nhưng Nhà nước ta dứt khoát không cho phép sự trả thù.
Người Việt Nam sẵn sàng hiên ngang mỉm cười đón nhận cái chết vì Tổ quốc trong chiến tranh, nhưng khi hòa bình lập lại, việc vô cớ tước đoạt sinh mạng của đồng bào, đồng loại là điều văn hóa Việt Nam không thể dung thứ.
Hàng ngàn năm đấu tranh sinh tồn đã đúc kết cho dân tộc Việt Nam một kho tàng nghệ thuật ngoại giao phong phú, uyển chuyển đến mức tuyệt kỹ. Dưới thời đại Hồ Chí Minh, nghệ thuật ấy được nâng tầm thành khoa học: Tâm công (đánh vào lòng người), dự báo thời cơ, và đặc biệt là phương châm "Dĩ bất biến ứng vạn biến".
Nhìn lại lịch sử, thời Lý, ta vừa đánh vừa đàm, lấy chiến thắng trên chiến trường làm bàn đạp ngoại giao, dùng "bút chiến" đẩy triều Tống vào thế kẹt chính trị mà phải thu binh nghị hòa. Thời Lê sơ, nghĩa quân Lam Sơn kết hợp sức mạnh quân sự cùng ngòi bút xuất quỷ nhập thần của Nguyễn Trãi, khiến quân Minh dẫu đông, dẫu thua đau nhưng vẫn được mở "lối thoát danh dự", không tổn hại quốc thể, từ đó dứt hẳn họa binh đao.
Đối với người láng giềng khổng lồ phương Bắc, dân tộc ta luôn hiểu rõ một sự thật địa chính trị khắc nghiệt: Ta không thể đẩy nước Trung Hoa ra xa, cũng không thể bê nước Việt Nam đi chỗ khác. Sống cạnh một đế chế to lớn, ta buộc phải khôn khéo. Cương thổ quốc gia là trọng, không một tấc đất nào được phép nhân nhượng, nhưng trong ứng xử phải vô cùng uyển chuyển. Ta thiết lập những mối quan hệ chằng chéo về kinh tế, ngoại giao, văn hóa, để cường quyền phương Bắc hiểu rằng: Động vào Việt Nam, chúng cũng sẽ phải trả giá cực kỳ đắt đỏ. Phương châm của ta là: Duy trì hòa bình để phát triển, nhưng không bao giờ lơi lỏng quốc phòng, luôn sẵn sàng cho mọi tình huống xấu nhất.
Đỉnh cao của sự khôn khéo ấy thể hiện rực rỡ trong Kháng chiến chống Mỹ. Trên bình diện quốc tế, Việt Nam đã khéo léo đu đưa trên dây đàn ngoại giao, khiến cả Liên Xô và Trung Quốc dẫu đang mâu thuẫn như nước với lửa, vẫn đồng lòng viện trợ tiền bạc, vũ khí để ta đánh Mỹ. Trên bàn đàm phán Paris (1968 - 1973), chúng ta tận dụng mọi yếu tố: từ chiến thắng vang dội trên chiến trường, phong trào phản chiến toàn cầu, cho đến sự chia rẽ trong lòng nước Mỹ (bầu cử, mâu thuẫn sắc tộc).
Ta có thể nhân nhượng nhiều thứ, nhưng độc lập chủ quyền là "cái bất biến". Kết quả là, ta ép Mỹ vào một hiệp định mà ở đó: Mỹ phải rút quân, Quân Giải phóng không rút; Mỹ không được công nhận ngụy quyền Sài Gòn là nhà nước duy nhất, và buộc phải công nhận sự tồn tại hợp pháp của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đó là một đòn ngoại giao vô tiền khoáng hậu!
Tóm lại, tổng kết kiến thức ngoại giao truyền thống hàng ngàn năm, sự ứng xử linh hoạt của Hồ Chí Minh đã trở thành một huyền thoại. Ở Người, cái thâm thúy, tĩnh tại và tinh tế của phương Đông luôn hòa quyện trọn vẹn với sự uyên bác, lịch lãm, hiện đại của phương Tây. Cách ứng xử ấy bắt nguồn từ một nội tâm vô cùng trong sáng, một tính cách thanh cao giản dị, và một tình yêu Tổ quốc đến cháy bỏng. Chính sự dẫn dắt tài ba xuất chúng ấy của Hồ Chí Minh đã thổi bùng ngọn lửa dân tộc tính, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam lướt qua bão tố, viết nên bản hùng ca bất diệt của thế kỷ 20.
Tác giả: Chu Đức Thuận