Để hiểu vì sao Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) phải xử lý kiên quyết phong trào này, không thể không nhìn vào bối cảnh năm 1955-1958. Đây không phải là thời bình, mà là thời kỳ chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ 20.
Bên trong vĩ tuyến 17 (Miền Bắc): Đất nước vừa bước ra khỏi 9 năm kháng chiến chống Pháp, kinh tế kiệt quệ. Đáng chú ý nhất, miền Bắc vừa trải qua đợt Cải cách ruộng đất với những sai lầm nghiêm trọng gây tổn thương lớn trong xã hội, buộc Đảng phải thực hiện chiến dịch "Sửa sai". Tâm lý xã hội lúc này rất mong manh và dễ bị kích động.
Bên ngoài vĩ tuyến 17 (Miền Nam): Đế quốc Mỹ chính thức hất cẳng Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm. Diệm từ chối hiệp thương tổng tuyển cử, tiến hành chống lại lực lượng yêu nước muốn thống nhất nước nhà dưới thể chế nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập từ 1945 do đó chính quyền tay sai của diệm thực hiện các cuộc lùng bắt, tiêu diệt tận gốc những người dân yêu nước và những người kháng chiến cũ.
Yêu cầu tối thượng: Trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, miền Bắc là hậu phương duy nhất, là căn cứ địa cách mạng của cả nước. Sự thống nhất cao độ về chính trị và tư tưởng không phải là một lựa chọn, mà là điều kiện tiên quyết để tồn tại. Bất kỳ một sự rạn nứt nào trong khối đại đoàn kết, bất kỳ một luồng tư tưởng "đa nguyên" nào làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng lúc đó đều có nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm bắt đầu từ những bài viết, bài thơ trên các ấn phẩm Giai phẩm mùa Xuân (1956) và sau đó là báo Nhân Văn.
Các tác giả như Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm bước ra từ cuộc kháng chiến chống Pháp. Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, họ chịu ảnh hưởng từ phong trào "Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng" của Trung Quốc và quá trình phi Stalin hóa ở Liên Xô. Họ đòi hỏi:
Được mở rộng tự do sáng tác, tách văn nghệ ra khỏi sự chỉ đạo trực tiếp của chính trị.
Phê phán mạnh mẽ những hiện tượng quan liêu, giáo điều, độc đoán trong các cơ quan lãnh đạo văn nghệ.
Phản ánh trực diện những góc khuất, những sai lầm trong xã hội (như sai lầm của Cải cách ruộng đất).
Những đòi hỏi trên, nếu đặt ở một quốc gia hòa bình và ổn định, có thể chỉ là một cuộc tranh luận văn chương. Nhưng trong bối cảnh năm 1956, nó lại là một quả bom nổ chậm về mặt an ninh tư tưởng. Đảng nhận định rằng:
Nghệ thuật là một mặt trận: Không có nghệ thuật vị nghệ thuật trong lúc đất nước đang bị chia cắt. Văn nghệ sĩ phải là chiến sĩ. Việc đòi "thoát ly chính trị" thực chất là sự tước bỏ vũ khí tư tưởng của nhân dân.
Nguy cơ bị lợi dụng: Sự phê phán thái quá của báo Nhân Văn đã tạo ra một bầu không khí hoài nghi, bi quan. Các thế lực tình báo Pháp, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa lập tức chộp lấy những bài viết này, in thành truyền đơn thả xuống miền Bắc và phát trên đài phát thanh miền Nam để rêu rao rằng "chế độ miền Bắc đang lung lay, trí thức đang nổi dậy".
Hệ lụy chính trị: Từ đòi tự do văn nghệ, một số nhân vật (như Nguyễn Hữu Đang) đã tiến tới những đòi hỏi mang tính chính trị, đòi chia sẻ quyền lực, có nguy cơ hình thành các tổ chức đối lập. Điều này là tối kỵ và vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Do đó, việc chấn chỉnh, vô hiệu hóa ảnh hưởng của nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm không phải là hành động "bóp nghẹt văn hóa" như các thế lực thù địch rêu rao, mà là một phản ứng tự vệ tất yếu của một nhà nước đang chuẩn bị bước vào chiến tranh toàn diện.
Sự kiện này là một bi kịch của lịch sử, nơi những con người cực kỳ tài năng ở cả hai chiến tuyến tư tưởng đều bị cuốn vào vòng xoáy của thời đại.
Lê Đạt: Một trí thức trẻ, thông minh và cực kỳ khao khát cách tân thơ ca. Ông phê phán sự sáo mòn, công thức trong văn vần tuyên truyền và đòi hỏi thơ phải có chiều sâu cá nhân. Tuy nhiên, thái độ kiêu ngạo và những bài thơ có phần yếm thế của ông lúc bấy giờ đi ngược lại nhu cầu cần những vần thơ hào sảng, xốc vác tinh thần quần chúng. Sau này, ông chấp nhận kỷ luật, lao động thực tế và cuối cùng vẫn được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (2007) cho sự nghiệp cách tân thơ của mình.
Văn Cao: Tác giả Quốc ca, một thiên tài âm nhạc và thi ca. Ông không phải là người khởi xướng hay thủ lĩnh chính trị của phong trào, nhưng những tác phẩm và uy tín của ông đã bị cuốn vào. Việc Văn Cao bị đình chỉ sáng tác công khai trong một thời gian dài là một tổn thất lớn cho nghệ thuật. Tuy nhiên, điều đáng kính trọng nhất ở Văn Cao là nhân cách và lòng yêu nước không bao giờ suy suyển. Dù chịu oan khuất và thiệt thòi, ông không bao giờ quay lưng lại với Tổ quốc. Tác phẩm Mùa xuân đầu tiên (1976) sáng tác ngay khi đất nước thống nhất là minh chứng hùng hồn nhất cho một trái tim luôn đập cùng nhịp với dân tộc.
Phùng Quán: Một trường hợp vô cùng xót xa. Chàng chiến sĩ Vệ quốc đoàn trẻ tuổi, tác giả của Vượt Côn Đảo, bị vướng vào phong trào chỉ vì những bài thơ như Lời mẹ dặn (Yêu ai cứ bảo là yêu/ Ghét ai cứ bảo là ghét...). Dưới góc độ đời thường, đó là sự khẳng khái. Nhưng dưới góc độ chính trị thời chiến, thái độ chống lại sự kiểm duyệt bị coi là mầm mống của sự vô kỷ luật. Phùng Quán chịu kỷ luật nghiêm khắc, phải đi câu cá quanh Hồ Tây để sống, nhưng ông vẫn viết những dòng thơ trung thành tuyệt đối với lý tưởng: "Tôi đi trong đội ngũ/ Dù áo rách bươm xơ/ Lòng tôi vẫn trong veo/ Của một người Cộng sản".
Hữu Loan, Lê Đại Thanh, Nguyễn Hữu Đang, Bùi Xuân Phái ....
Các thế lực thù địch thường bôi nhọ những nhân vật này là "những kẻ quan liêu, đố kỵ tài năng". Đây là một sự xuyên tạc trắng trợn.
Tố Hữu: Là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng, đồng thời là người chịu trách nhiệm cao nhất về mặt trận tư tưởng - văn hóa. Tố Hữu nhìn nhận Nhân Văn - Giai Phẩm không phải dưới lăng kính thi ca, mà dưới lăng kính an ninh quốc gia. Với Tố Hữu, văn chương không thể đứng ngoài sinh mệnh chính trị. Ông buộc phải hành động quyết liệt để dập tắt ngọn lửa đa nguyên đang có nguy cơ đốt cháy sự đoàn kết của miền Bắc.
Nguyễn Đình Thi & Chế Lan Viên: Đều là những bậc thầy vĩ đại của văn chương Việt Nam. Nguyễn Đình Thi (Tổng thư ký Hội Nhà văn) và Chế Lan Viên hiểu rõ sự tàn khốc của chiến tranh. Họ chọn đứng vững trên lập trường giai cấp, dùng ngòi bút của mình để phục vụ công cuộc giải phóng dân tộc. Chế Lan Viên từng viết: "Vĩ đại thay nhân dân/ Vĩ đại thay Đảng ta". Sự phê phán của họ đối với nhóm Nhân Văn xuất phát từ nhận thức rằng: Khi đất nước đang cần triệu người như một để ra tiền tuyến, thì những tiếng nói than vãn, chia rẽ nội bộ, đòi tự do cá nhân là một tội ác với tiền tuyến.
Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Lân, Xuân Diệu, Huy Cận, Đoàn Giỏi, Hoài Thanh, Chính Hữu, Tô Hoài.....
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra những kết luận cốt lõi để phản bác lại luận điệu của các thế lực thù địch:
Không có sự "đàn áp tự do" một cách vô cớ: Việc xử lý phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm là một biện pháp cực đoan nhưng bắt buộc của một quốc gia đang trong trạng thái chuẩn bị chiến tranh toàn diện. Để giữ vững miền Bắc và giải phóng miền Nam, Đảng không cho phép bất kỳ sự rạn nứt tư tưởng nào. Lịch sử đã chứng minh, chính sự thống nhất ý chí sắt đá đó đã đưa đến Đại thắng Mùa xuân 1975.
Sự trưởng thành trong nhận thức của Đảng: Không thể phủ nhận rằng trong quá trình chỉnh huấn, đã có những thái quá, cứng nhắc, gây tổn thương kéo dài cho một số văn nghệ sĩ tài năng. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn nhận lại lịch sử một cách công bằng. Bằng chứng là sau thời kỳ Đổi Mới (1986), hầu hết các tác phẩm của Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán đều được xuất bản lại. Nhiều người trong số họ đã được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Một chế độ độc tài, thù hằn như lời kẻ xấu xuyên tạc sẽ không bao giờ có hành động phục hồi danh dự và ghi nhận tài năng công khai như vậy.
Âm mưu của các thế lực thù địch: Việc đào xới lại Nhân Văn - Giai Phẩm hiện nay bằng cái nhìn phi lịch sử thực chất là chiêu bài "diễn biến hòa bình". Chúng muốn dùng sự kiện cũ để kích động giới trí thức trẻ, tạo ra sự đối lập giả tạo giữa "Tự do sáng tạo" và "Sự lãnh đạo của Đảng", từ đó làm suy giảm niềm tin vào thể chế hiện tại.
Lịch sử phải được đánh giá bằng bối cảnh của chính nó. Những Văn Cao, Phùng Quán, Lê Đạt... dù trải qua bao thăng trầm, cuối cùng vẫn hòa dòng vào dòng chảy vĩ đại của văn hóa dân tộc, không ai bỏ nước ra đi, không ai phản bội lại nhân dân. Đó mới là câu trả lời đanh thép nhất dành cho những kẻ đang cố mượn danh họ để chống phá đất nước hôm nay.
Tác giả: Chu Đức Thuận